Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ ANH

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số:16 /2024/HS-ST

Ngày: 14-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng
Bà Trần Thị Toàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân T:

Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/5/1995 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Chức vụ, đảng phái: không; Bố: Nguyễn Xuân L; sinh năm: 1964, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ: Bùi Thị K; sinh năm: 1964, Nghề nghiệp: Lao động tự do; A, chị, em: có hai người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 02/02/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Hạnh P, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do. (vắng mặt)
  2. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do. (vắng mặt)
  3. Anh Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do. (vắng mặt)
  4. Anh Nguyễn Lê Đình C, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do ( vắng mặt)
  5. Lê Thị T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do ( có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: lao động tự do ( có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Chị Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt)
  2. Chị Hoàng Thị Ngọc Á, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt)

- Những người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ tham gia hỗ trợ phiên toà tại điểm cầu thành phần, Trại tạm giam công an tỉnh H.

  1. Đồng chí: Nguyễn Văn T2; chức vụ: Đại uý, tổ trưởng tổ dẫn giải
  2. Đồng chí: Nguyễn Văn T3; chức vụ: hạ sỹ; Thành viên tổ dẫn giải
  3. Đồng chí: Trương Hữu Bắc ; chức vụ: hạ sỹ; Thành viên tổ dẫn giải

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 11/2023, Nguyễn Xuân T không có giấy phép bán pháo của nhà máy Z, Bộ Q sản xuất và không có pháo hoa nổ để bán nhưng nảy sinh ý định sử dụng tài khoản Facebook có tên hiển thị là “Trà Lĩnh” của mình vào M gọi điện cho một số người có nhu cầu mua pháo hoa nói dối có pháo hoa bán với giá rẻ, khi khách đồng ý mua thì yêu cầu chuyển tiền trước sau đó không giao pháo để nhằm mục đích chiếm đoạt tiền mua pháo lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Chiều ngày 13/11/2023, Nguyễn Xuân T, sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo sử dụng mạng Internet vào phần Messenger tài khoản Facebook “Trà Lĩnh” của mình gọi điện vào Messenger tài khoản Facebook “Nguyễn Hạnh P” của anh Nguyễn Hạnh P hỏi anh P có mua pháo về sử dụng tết không và giới thiệu T đang có pháo loại 36 quả bán với giá 600.000 đồng/hộp và pháo 09 quả bán với giá 800.000 đồng/hộp. Anh P đồng ý mua của Trà 04 (Bốn) hộp pháo loại 36 quả và 02 (Hai) hộp pháo loại 09 quả với tổng số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Chiều ngày 14/11/2023, T nhắn tin cung cấp cho anh P số tài khoản 9834481277 của T, mở tại Ngân hàng V yêu cầu anh P chuyển tiền vào ngay. Anh P chuyển vào tài số tài khoản của T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền, đồng thời nói với T khi nào giao pháo sẽ thanh toán số tiền còn thiếu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Sáng ngày 15/11/2023, anh P gọi điện yêu cầu T đưa pháo cho anh P thì T trả lời, trưa cùng ngày sẽ đưa đến nhà cho anh P. Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 15/11/2023, T xin đi nhờ xe một người đàn ông tên T4 (Không rõ lý lịch, địa chỉ cụ thể) chở đến gần cửa hàng tạp hóa của gia đình anh P, rồi xuống xe đi bộ đến cửa hàng tạp hóa thấy có 01 (Một) thùng cát tông bên đường, nên T nảy sinh ý định đưa thùng cát tông này đi vào nói dối là pháo cất dấu trong thùng. Khoảng 13 giờ cùng ngày biết được anh P không ở nhà nên T mang theo thùng cát tông đi vào cửa hàng tạp hóa nhà anh P gặp chị Hoàng Thị Ngọc Á (là Vợ anh P) rồi đưa thùng cát tông ra cất dấu phía sau nhà và chào chị Á ra về. Sau khi ra khỏi nhà anh P, T gọi điện thoại cho anh P nói dối đã đưa pháo đến nhà và yêu cầu anh P chuyển số tiền còn thiếu, nên anh P tiếp tục chuyển vào tài số tài khoản của T số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền. Sau khi nhận được tổng số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) của anh P chuyển khoản, T chặn Facebook và điện thoại anh P không cho anh P liên lạc với mình. Ngày 01/02/2023, anh Nguyễn Hạnh P làm đơn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, xác minh làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Xuân T, đến ngày 02/02/2023, Nguyễn Xuân T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, đầu thú và khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, Nguyễn Xuân T khai nhận: Ngoài lần phạm tội nói trên, Trong khoảng thời gian từ ngày 07/11/2023 đến ngày 21/11/2023, với thủ đoạn nói trên, ngoài lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh P còn thực hiện 03 (Ba) lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:

+ Lần thứ nhất: Chiều ngày 07/11/2023, Nguyễn Xuân T, sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo sử dụng mạng Internet vào phần Messenger của tài khoản Facebook “Trà Lĩnh” gọi điện vào Messenger của tài khoản Facebook “Nguyễn Đình Đ” của anh Nguyễn Đình Đ, nói dối “Đợt này có pháo chơi tết chưa, Trà đang ở Quảng Ninh, có lấy thì T lấy về cho luôn”, anh Đ trả lời “Chưa có”. Sau đó T giới thiệu với anh Đ đang có pháo loại 36 quả bán với giá 600.000 đồng/hộp và pháo 09 quả bán với giá 800.000 đồng/hộp thì anh Đ đồng ý đặt mua 03 (Ba) hộp pháo loại 36 quả, T cung cấp cho anh Đ số tài khoản 9834481277 của T, mở tại Ngân hàng V yêu cầu anh Đ chuyển tiền vào ngay. Anh Đ đồng ý mua và chuyển vào tài số tài khoản của T, số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng) rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền. Sau khi chuyển tiền xong, anh Đ tiếp tục gọi điện thoại hỏi T có pháo sáng không, T trả lời có và báo giá 150.000 đồng/quả. Anh Đ đồng ý mua và đặt cho Trà 10 quả phóa sáng rồi tiếp tục chuyển vào tài khoản của Nguyễn Xuân T số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và hứa hẹn với anh Nguyễn Đình Đ hai ngày sau sẽ giao pháo cho anh Đ. Sau khi nhận được tổng số tiền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) của anh Đ chuyển khoản, T chặn Facebook và điện thoại của anh Đ không cho anh Đ liên lạc với mình.

+ Lần thứ hai: Chiều ngày 10/11/2023, Nguyễn Xuân T, sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo sử dụng mạng Internet vào phần Messenger của tài khoản Facebook “Trà Lĩnh” gọi điện vào Messenger của tài khoản Facebook “Nguyễn Tiến D” của anh Nguyễn Tiến D, nói “Trên đó có pháo chơi chưa”, anh D trả lời “Chưa”. Sau đó T giới thiệu với anh D đang có pháo loại 36 quả bán với giá 750.000 đồng/hộp và pháo 09 quả bán với giá 900.000 đồng/hộp rồi tải hình ảnh pháo hoa nổ trên mạng xã hội gửi cho anh D xem thì anh D đồng ý đặt mua 04 (Bốn) hộp pháo loại 36 quả và 02 (Hai) hộp pháo loại 09 quả, T thống nhất bán cho anh D 06 (Sáu) hộp pháo với tổng số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Anh D1 đồng ý mua và nói với T khi nào đưa pháo lên nhà cho anh D1 thì anh D1 chuyển tiền cho. Sau đó T đến cửa hàng T7 (Không rõ địa chỉ cụ thể) ở bên đường Q, thuộc địa phận xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh xin một thùng cát tông và mua 06 (Sáu) cuộn giấy vệ sinh bỏ vào trong thùng cát tông để mục đích làm giả pháo rồi dùng băng dính dán kín lại gọi xe Taxi đưa thùng cát tông đi đến nhà anh D1. Khoảng 20 giờ 30 cùng ngày, T đi đến trước nhà anh D1 rồi gọi điện thoại cho anh D1 hỏi có ở nhà không, nhưng anh D1 không ở nhà nên hướng dẫn T đưa thùng cát tông vào cất dấu trong phòng khách. Trên đường đi về Trà nhắn tin cung cấp cho anh D1 số tài khoản 9834481277 của T, mở tại Ngân hàng V yêu cầu anh D1 chuyển tiền vào ngay. Anh D1 đồng ý và chuyển vào tài số tài khoản của T số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền. Sau khi nhận được tổng số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) của anh D1 chuyển khoản, T chặn Facebook và điện thoại của anh D1 không cho anh D1 liên lạc với mình.

+ Lần thứ ba: Chiều ngày 21/11/2023, Nguyễn Xuân T, sử dụng điện thoại nhãn hiệu Vivo sử dụng mạng Internet vào phần Messenger của tài khoản Facebook “Trà Lĩnh” gọi điện vào Messenger của tài khoản Facebook “Nguyễn Lê Đình C” của anh Nguyễn Lê Đình C, hỏi “Trên đó có pháo chơi chưa”, anh C trả lời “Chưa”. Sau đó T giới thiệu với anh C đang có pháo loại 36 quả bán với giá 600.000 đồng/hộp và pháo 09 quả bán với giá 800.000 đồng/hộp. Anh C đồng ý mua của Trà 08 (T5) hộp pháo loại 36 quả, với tổng số tiền 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng) thì T yêu cầu chuyển tiền trước. Do thời điểm này anh C đang đi làm trong cảng V, nên nói với T, C sẽ liên lạc về với bà Lê Thị T1, (Mẹ của C) để chuyển tiền và lấy pháo. Sau đó, C nhắn số điện thoại 0974.857.xxx của bà T1 cho T rồi nói T liên hệ với bà T1 để lấy tiền. Tiếp đó T gọi điện cho bà T1 nói “C nhờ mua pháo, nên bà gửi tiền cho con”. Biết T là bạn của C nên bà T1 tin tưởng và đồng ý chuyển tiền cho T rồi T nhắn tin cung cấp cho bà T1 số tài khoản 9834481277 của T, mở tại Ngân hàng V yêu cầu bà T1 chuyển tiền vào ngay. Bà T1 chuyển vào tài số tài khoản của T, số tiền 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng) rồi nhắn tin xác nhận với nhau đã chuyển và nhận tiền.Sau khi nhận được tổng số tiền 4.800.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), T chặn Facebook và điện thoại của anh C và bà T1 không cho anh C, bà T1 liên lạc với mình.

Tổng cộng Nguyễn Xuân T đã 04 (Bốn) lần đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt của 04 bị hại gồm: Anh Nguyễn Đình Đ, anh Nguyễn Tiến D, anh Nguyễn Hạnh P, anh Nguyễn Lê Đình C với tổng số tiền là 16.600.000 đồng (Mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng). Số tiền trên Trà đã tiêu xài cá nhân.

* Về vật chứng: Qúa trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu từ Nguyễn Xuân T. 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu tím than, số IMEI1: 860671053239338; số IMEI2: 860671053239320 bên trong gắn sim số: 0834481277 và 0845613595, vật chứng này đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với 01 thùng cát tông hình hộp chữ nhật, màu nâu, bên trong có 06 (sáu) cục giấy ăn Nguyễn Xuân T đưa đến nhà anh Nguyễn Tiến D và 01 thùng cát tông hình hộp chữ nhật, màu nâu Nguyễn Xuân T đưa đến nhà anh Nguyễn Hạnh P. Sau khi kiểm tra biết bên trong không có pháo nên anh D và anh P đã vứt đi. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã truy tìm nhưng không có kết quả.

* Về dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Nguyễn Xuân T đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại là anh Nguyễn Đình Đ số tiền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Tiến D 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Hạnh P 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); anh Nguyễn Lê Đình C 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

Bản cáo trạng số 19/CT-VKS-TPHT ngày 05/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Xuân T từ 13 đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (02/02/2024). Hình phạt bổ sung: Không. Về trách nhiệm dân sự: Không; Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng.

Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 07/11/2023 đến ngày 21/11/2023, tại địa bàn huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Xuân T mặc dù không có pháo hoa nhưng đã 04 lần đưa ra thông tin gian dối có pháo hoa bán với giá rẻ. Khi các bị hại đồng ý mua thì T yêu cầu chuyển tiền mua pháo nhưng không giao pháo. Với thủ đoạn trên, T đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Đình Đ số tiền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng), anh Nguyễn Tiến D số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Hạnh P số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); anh Nguyễn Lê Đình C và bà Lê Thị T1 số tiền 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 16.600.000 đồng đồng (Mười sáu triệu sáu trăm nghìn đồng).. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo phạm tội từ 2 lần trở lên, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại đầy đủ cho tất cả các bị hại, bị cáo đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghề nghiệp không ổn định, thu nhập thấp, bị cáo đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã tác động với gia đình bồi thường, cho bị hại anh Nguyễn Đình Đ 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Tiến D 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Hạnh P 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng); bà Lê Thị T1 4.800.000 đồng (Bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Nay các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân L, đã bồi thường thay cho bị cáo T toàn bộ số tiền cho các bị hại, nay ông L không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường, nên miễn xét.

[7] Về vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu tím than thu của Nguyễn Xuân T là công cụ, phương tiện phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại Điểm a, khoản 1, điều 47 Bộ luật hình sự, Khoản 1, Đ1 a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Các sim số: 0834481277 và 0845613595 không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Những vấn đề liên quan khác: Đối với người đàn ông đã chở bị cáo tên Nguyễn Tiến T6 (ở xã K, huyện K), quá trình điều tra, xác minh Nguyễn Tiến T6 không có mặt tại địa phương, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K tiếp tục xác minh để làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật. Đối với người lái taxi mà T khai đã gọi đến để nhờ chở T và tùng cát tông đến nhà anh Nguyễn Tiến D. Quá trình điều tra không xác định được thông tin họ tên địa chỉ, nên không có căn cứ để xử lý.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo, bị hại, ngừoi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 điều 23, khoản 1, khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Nguyễn Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Xuân T 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (02/02/2024).

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu tím than, số IMEI1: 860671053239338; số IMEI2: 860671053239320, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo;
  • Tịch thu tiêu hủy sim số: 0834481277 và 0845613595.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND huyện Kỳ Anh
  • - THADS huyện Kỳ Anh
  • - Công an huyện Kỳ Anh; Trại tạm giam;
  • - THAPT; Bị cáo; Bị hại; NLQ;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger