|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày: 09 - 8 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhuận
Ông Nguyễn Hồng Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Tỏ – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đỗ Huy T; Sinh ngày 06 tháng 10 năm 1992; tại Đồng Nai; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Huy B, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1962; có vợ là Cil Múp K, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Cil Múp H; Sinh ngày 08 tháng 12 năm 2000; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Chil; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bon Niênh Ha P, sinh năm 1970 (chết) và bà Cil Múp K, sinh năm 1975; có vợ là Long Đưng K, sinh năm 2003 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Rơ Ông Ha Trần; Sinh ngày 30 tháng 5 năm 2001; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Chil; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mbon Ha P1, sinh năm 1965 và bà Rơ Ông K1, sinh năm 1968; có vợ là C Múp K' Hiêm, sinh năm 1998 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- R1; Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1996; tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn): 0/12; dân tộc: Chil; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Long Dưng Hà D, sinh năm 1962 và bà Rơ Ông K2, sinh năm 1962; có vợ là Long Dưng K, sinh năm 2002 và 01 con; tiền án, tiền sự: không; Hiện bị cáo đang tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Ban Q; Địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, người đại diện theo pháp luật ông Trần Xuân Đ, chức vụ: Trưởng ban; người đại diện theo ủy quyền ông Đinh Hữu Đ1; chức vụ: Phó Trưởng ban (theo văn bản ủy quyền số 222/ĐNĐN-KTVR, ngày 19/7/2024); có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Huy T sinh sống tại xã Đ, huyện L nên biết trên địa bàn xã Đ có các cây thông hai lá dẹt nên khi có người cần mua, T đã đồng ý khai thác cây thông hai lá dẹt để lấy gỗ bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 19 giờ, ngày 14/12/2023, Đỗ Huy T mang theo 01 cưa máy và 01 ba lô đựng dụng cụ phục vụ việc khai thác gỗ, đi bộ đến nhà C Múp H tại thôn A, xã Đ và rủ H đi cùng để phụ giúp T khai thác cây gỗ, T hứa sẽ trả công 200.000 (hai trăm nghìn đồng)/ 01 lần đi phụ giúp, Ha T1 đồng ý. Sau đó Ha T1 điều khiển xe máy (không gắn biển kiểm soát) chở T đi trên đường T đến thôn L, xã Đ, T để xe máy ven đường rồi cùng T đi bộ vào trong rừng khoảng 150m ; Đến vị trí có 01 cây thông hai lá dẹt T đã chọn từ trước, T lắp máy cưa và cưa hạ cây thông hai lá dẹt này. Sau khi cưa hạ, T cất giấu cưa máy và ba lô đựng dụng cụ tại hiện trường rồi cùng Ha T1 đi về. Tối ngày hôm sau, T và T1 tiếp tục cùng nhau đi vào vị trí có 01 cây thông hai lá dẹt T đã cưa hạ vào tối hôm trước để cắt lóng, xẻ thành hộp; T sử dụng cưa máy cắt lóng đầu tiên thì bị kẹt lam cưa nên T và T1 phải tháo cưa và cất giấu lại vào trong bụi cây rồi đi về. Tối ngày hôm sau, T rủ thêm Rơ Ông H, Rơ Ông H cùng đi phụ giúp, T cũng hứa hẹn sẽ trả tiền công 200.000 (hai trăm nghìn đồng)/ 01 lần đi phụ giúp, T2 và B1
đồng ý; Ngay sau đó, T, T1, B1, T2 cùng nhau đi 02 xe máy vào vị trí cây thông hai lá dẹt T đã cưa hạ trước đó; Tại đây, cả nhóm cùng nhau tháo lam cưa bị kẹt trong thân cây rồi T dùng cưa máy cưa, xẻ thân cây thành 05 lóng; tiếp đó, T đã xẻ được 03 lóng gỗ thành 08 hộp gỗ và 01 phách gỗ. Quá trình T cưa lóng, xẻ hộp gỗ thì T1, T2, B1 phụ giúp đo đạc, căng dây, búng mực, đổ xăng, nhớt. Khi T đang xẻ hộp lóng gỗ thứ ba thì bị lực lượng chức năng phát hiện. Đỗ Huy T, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm.
Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 17/12/2023 đã xác định: Hiện trường khai thác lâm sản trái pháp luật thuộc lô b, khoảnh 1, tiểu khu F, lâm phần do Ban QLRPHÐN Đa Nhim quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Tại hiện trường có 01 cây thân gỗ, xác định ban đầu là loài thông lá dẹt bị cưa hạ, chiều cao gốc là 22cm; 05 lóng gỗ tròn, khối lượng 7,142 m³; 08 hộp, 01 phách gỗ, tổng khối lượng 1,662 m³, quy đổi sang gỗ tròn là 2,749 m³; 13 miếng bìa gỗ không xác định được khối lượng; 11 lóng gỗ phần cành, ngọn, khối lượng 2,026 m³, hiện trường có nhiều mùn cưa tại các vị trí gốc cây, vị trí các đoạn cắt phân lóng và vị trí các hộp, phách gỗ đã xẻ. Tổng khối lượng lâm sản của 01 cây thông lá dẹt bị khai thác là 11,917 m³.
Quyết định trưng cầu giám định số 96/QĐ-ĐTTH ngày 20/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trưng cầu giám định 04 mẫu vật thu được trên cây gỗ bị khai thác tại lô b, khoảnh 1, tiểu khu F. Kết luận giám định mẫu vật số GĐ01/2024-TTTV-SIE ngày 09/01/2024 của Viện Sinh thái học M1 kết luận: “Mẫu vật yêu cầu giám định được xác định là loài Pinus krempfii; tên thường gọi: Thông Sri, T hai lá dẹt. Thuộc chi P2 (chi T), họ P3 (họ T), bộ P4 (bộ T5). Tình trạng bảo tồn: Đây là loài đặc hữu của Việt Nam; Được xếp hạng VU sẽ nguy cấp tại D lục đỏ thế giới IUCN; Thuộc danh mục IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 22/9/2021 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp.”
Văn bản số 138/PNN, ngày 22/12/2023 của Phòng N, huyện L đã xác định vị trí có cây rừng bị khai thác thuộc lô b khoảnh 1 tiểu khu F, xã Đ, huyện L là đất rừng, quy hoạch là rừng sản xuất là rừng tự nhiên lá rộng thường xanh núi đất theo Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày 08/3/2021 của UBND tỉnh L V/v điều chỉnh, bổ sung khoản 3 Điều 1 Quyết định số 2016/QĐ-UBND ngày 09/10/2018 của Chủ tịch UBND tỉnh L và Quyết định số 299/QĐ-UBND ngày 29/01/2015 của UBND tỉnh L.
Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 25/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản, huyện L kết luận: Tổng giá trị của 11,917 m³ gỗ thông hai lá dẹt là 176.780.600 (một trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 16/CT-VKSLD ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Đỗ Huy T, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo như đã khai báo ở Cơ quan điều tra cũng như nội dung bản cáo trạng truy tố và lời trình bày tại phiên tòa hôm nay như nội dung vụ án được tóm tắt ở trên; Các bị cáo không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng, và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Nguyên đơn dân sự trình bày: Hành vi vi phạm các bị cáo đã gây thiệt hại cho Nhà nước tổng số tiền 176.780.600 (một trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng); các bị cáo đã bồi thường được số tiền 147.000.000 đồng; Tại phiên tòa hôm nay ông yêu cầu các bị cáo tiếp tục bồi thường tiếp số tiền còn lại; đồng thời ông không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đỗ Huy T, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng số 16/CT-VKSLD ngày 20/6/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Huy T từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 36 tháng. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Cil M Ha Tợk từ 09 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 đến 30 tháng. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Rơ Ông H và bị cáo Rơ Ô Ha Bông mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 đến 18 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 176.780.600 (một trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng) để sung Ngân sách Nhà nước, theo phần: Bị cáo Đỗ Huy T bồi thường số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng); Bị cáo Cil Múp Ha Tợk bồi thường số tiền 16.780.600 (mười sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng); Bị cáo Rơ Ông Ha B2 bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng); Bị cáo Rơ Ô Ha Trần bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng).
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước 05 (năm) lóng gỗ tròn, khối lượng 7,142 m3; 08 (tám) hộp và 01 (một) phách gỗ, tổng khối lượng 1,662 m3; 13 (mười ba) miếng bìa gỗ không xác định được khối lượng; 11 (mười một) lóng gỗ phần cành, ngọn, khối lượng 2,026 m3; 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu đen, gắn thẻ Sim số 0971476522; 01 (một) máy cưa xăng màu cam, nhãn hiệu STILH, có lam cưa dài 80cm. Giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh chủ sở hữu hợp pháp để giải quyết theo quy định của pháp luật gồm 02 (hai) xe máy không có biểm kiểm soát, không xác định được số khung, số máy. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại do không còn giá trị sử dụng tại biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024; Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng) thu lợi bất chính của bị cáo Đỗ Huy T đã nộp.
Đối với Nguyễn Trực C1 là người đặt khai thác gỗ thông hai lá dẹt để bán cho C1; Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa thể làm việc được với Nguyễn Trực C1 để làm rõ vai trò, hành vi của C1 trong vụ án. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi, quyết định truy tìm đối với Nguyễn Trực C1 và sẽ xử lý theo quy định khi đủ căn cứ.
Đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng tại tiểu khu F: Kết quả điều tra đã xác định các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng tại tiểu khu F đã làm đúng, đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được giao trong công tác quản lý và bảo vệ rừng; không có sự bao che, tiếp sức cho các bị can thực hiện hành vi khai thác lâm sản trái pháp luật; kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi phạm tội của các bị can. Do đó, không có sự việc phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp” quy định tại Điều 179 và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Điều 360 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với vụ việc khai thác lâm sản trái pháp luật xảy ra tại tiểu khu F, lâm phần do Ban QLRPHĐN Đa Nhim quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo; nguyên đơn dân sự không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của các bị cáo đều có ý kiến về việc đã nhận thấy việc làm của các bị cáo là vi phạm pháp luật, và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo trong vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Khoảng 20 giờ, ngày 14/12/2023, tại lô b, khoảnh 1, tiểu khu F, lâm phần do Ban QLRPHÐN Đa Nhim quản lý, thuộc địa giới hành chính xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng là khu vực đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, Đỗ Huy T đã sử dụng cưa máy cưa hạ 01 cây thông hai lá dẹt, khối lượng 11,917 m³ để lấy gỗ bán cho người khác; đến tối ngày 16/12/2023, Thông sử dụng cưa máy cắt lóng, xẻ thành hộp gỗ 01 cây thông hai lá dẹt này; Quá trình Thông khai thác gỗ thông hai lá dẹt, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H đã phụ giúp đo đạc, căng dây, búng mực. Xét thấy những lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Do vậy Cáo trạng số 16/CT-VKSLD ngày 20/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Trực C1 là người đặt khai thác gỗ thông hai lá dẹt để bán cho C1; Tuy nhiên, Cơ quan điều tra chưa thể làm việc được với Nguyễn Trực C1 để làm rõ vai trò, hành vi của C1 trong vụ án; Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã ra quyết định số 131/QĐ-ĐTTH, ngày 31/5/2024 tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự; đồng thời quyết định truy tìm đối với Nguyễn Trực C1 để làm rõ và xử lý theo quy định khi đủ căn cứ.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tôi lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong; bị cáo T đã bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra với số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng), đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.000.000 đồng để sung ngân sách nhà nước; bị cáo Rơ Ông Ha T3, Rơ Ông H bồi thường một phần để khắc phục thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Do vậy, cũng cần áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; bị cáo Đỗ Huy T áp dụng thêm điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Rơ Ông Ha T3 và Rơ Ông H áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về quyết định hình phạt:
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bởi lẽ, rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của Nhà nước và là bộ phận bảo vệ môi trường sinh thái, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách cũng như công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về quản lý và bảo vệ rừng, để ngăn chặn mọi hành vi phá rừng, song chỉ vì mục đích muốn có tiền tiêu sài cho mục đích cá nhân, các bị cáo đã coi thường pháp luật, coi thường các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng, đã lợi dụng sự sơ hở của chủ rừng và cơ quan quản lý của Nhà nước, đã dùng cưa máy khai thác gỗ bán lấy tiền; Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều sinh sống tại xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, và là người có nhân thân tốt, lần đầu các bị cáo phạm tội; đồng thời các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Bộ luật hình sự; các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị mức hình phạt cho các bị cáo của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với hành vi của các bị cáo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Đỗ Huy T; Các bị cáo Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H do không có việc làm và thu nhập ổn định, không có khả năng kinh tế, nên miễn hình phạt bổ sung phạt tiền được quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 176.780.600 (một trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng) để sung Ngân sách Nhà nước, theo phần: Bị cáo Đỗ Huy T bồi thường số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng) được trừ số tiền 140.000.000 đã nộp bồi thường (bị cáo đã bồi thường đủ); Bị cáo Cil Múp Ha T4 bồi thường số tiền 16.780.600 (mười sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng); Bị cáo Rơ Ông Ha B2 bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng), được trừ số tiền 2.000.000 bị cáo đã nộp bồi thường, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 8.000.000 (tám triệu đồng); Bị cáo Rơ Ông Ha Trần bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng), được trừ số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng).
[8]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu bán sung ngân sách Nhà nước: 05 (năm) lóng gỗ tròn, khối lượng 7,142 m³; 08 (tám) hộp, 01 (một) phách gỗ, tổng khối lượng 1,662 m³; 13 (mười ba) miếng bìa gỗ không xác định được khối lượng; 11 (mười một) lóng gỗ phần cành, ngọn, khối lượng 2,026 m³; 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu đen, gắn thẻ Sim số 0971476522; 01 (một) máy cưa xăng màu cam, nhãn hiệu STILH, có lam cưa dài 80cm.
Giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh chủ sở hữu hợp pháp để giải quyết theo quy định của pháp luật gồm: 02 (hai) xe máy không có biển kiểm soát, không xác định được số khung, số máy.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại do không còn giá trị sử dụng tại biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024.
[9]. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng) thu lợi bất chính của bị cáo Đỗ Huy T đã nộp.
[10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố các bị cáo Đỗ Huy T, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 232; Điều 38; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Huy T 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cil M Ha Tợk 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Rơ Ông Ha Trần 0 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).
- Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 232; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Rơ Ô Ha Bông 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).
Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Huy T 10.000.000 (mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền được quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền được quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung phạt tiền được quy định tại khoản 4 Điều 232 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Giao các bị cáo Đỗ Huy T, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, vắng mặt tại nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự (Đã giải thích chế định án treo).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; Điều 587, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 176.780.600 (một trăm bảy mươi sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng), để sung Ngân sách Nhà nước, theo phần:
Bị cáo Đỗ Huy T bồi thường số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng) được trừ số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng) đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000444, ngày 14/5/2024 và biên lai thu tiền số 0000455, ngày 08/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương (bị cáo đã bồi thường đủ).
Bị cáo Cil M Ha Tợk bồi thường số tiền 16.780.600 (mười sáu triệu bảy trăm tám mươi nghìn sáu trăm nghìn đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Rơ Ông Ha B2 bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng), được trừ số tiền 2.000.000 (hai triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000454 ngày 26/7/2024, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 8.000.000 (tám triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo Rơ Ô Ha Trần bồi thường số tiền 10.000.000 (mười triệu đồng), được trừ số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng) bị cáo đã nộp bồi thường, tại biên lai thu tiền số 0000449 ngày 25/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương, bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền 5.000.000 (năm triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng và biên pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 05 (năm) lóng gỗ tròn, khối lượng 7,142 m³; 08 (tám) hộp, 01 (một) phách gỗ, tổng khối lượng 1,662 m³; 13 (mười ba) miếng bìa gỗ không xác định được khối lượng; 11 (mười một) lóng gỗ phần cành, ngọn, khối lượng 2,026 m³; 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu đen, gắn thẻ Sim số 0971476522; 01 (một) máy cưa xăng màu cam, nhãn hiệu STILH, có lam cưa dài 80cm.
Giao cho Cơ quan điều tra Công an huyện L tiếp tục xác minh chủ sở hữu hợp pháp để giải quyết theo quy định của pháp luật gồm: 02 (hai) xe máy không có biểm kiểm soát, không xác định được số khung, số máy.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thước rút lõi sắt màu vàng; 01 (một) dây búng mực; 02 (hai) can nhựa màu trắng chứa dung dịch; 01 (một) kìm màu đen; 01 (một) khoá mở cưa máy; 01 (một) dũa xích máy cưa; 01 tua vít; 01 (một) tuýp mở Bugi; 01 (một) ba lô màu xanh rằn ri.
(Vật chứng được giao nhận theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/6/2024).
- Về biện pháp tư pháp khác: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính 5.000.000 (năm triệu đồng) của bị cáo Đỗ Huy T, đã nộp tại biên lai 0000445, ngày 14/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương.
-
Về xử lý vật chứng:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-
Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo Đỗ Huy T, Cil Múp H, Rơ Ông H, Rơ Ông H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo Rơ Ông Ha B2 đã nộp đủ số tiền 200.000 đồng, tại biên lai thu tiền số 0000453, ngày 26/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Dương).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Phúc |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Huy T-Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
