Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẾ SƠN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 06-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.
  • Các Hội thẩm nhân dân.
    1. Bà Nguyễn Thị Tám.
    2. Bà Võ Thị Hồng Hải.

- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Hướng, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32A/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường Đ, sinh ngày 30/9/1993; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ máy; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị N; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người làm chứng: anh Ngô Văn L, sinh năm 1982. Vắng mặt

Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 01/02/2024, bị cáo Nguyễn Trường Đ điều khiển xe mô tô biển số 92G1-109.26 đi từ nhà đến khu phố C, huyện D để mua quần áo. Tại đây, bị cáo gặp và nói chuyện với một người bạn quen trước đây tên V (không rõ họ, năm sinh, địa chỉ). Bị cáo hỏi V: “có biết ai bán pháo để đốt dịp Tết không?” V nói Vũ bán. Bị cáo và V thỏa thuận mua bán 06 hộp pháo nổ với giá là 8.100.000 đồng. V hẹn bị cáo đến khu vực cầu P thuộc thôn T, xã Q, huyện Q đứng đợi. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, V điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu P và chở theo hai thùng carton (01 thùng carton loại vỏ bia LARUE và 01 thùng carton loại vỏ bia TIGER); bên trong hai thùng carton này có chứa 06 hộp pháo nổ. Khi gặp bị cáo, V đưa hai thùng carton chứa pháo nổ cho bị cáo. Bị cáo bỏ hai thùng carton xuống đất và đưa cho V số tiền 8.100.000 đồng. Sau khi lấy tiền, V điều khiển xe đi về hướng huyện D. Bị cáo chuẩn bị đi về thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Quá trình làm việc, Đ khai nhận mua của V 06 hộp pháo nổ nhằm mục đích để đốt vào dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn.

Tại Bản Kết luận giám định số: 338/KL-KTHS, ngày 29/02/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 06 (sáu) khối hộp gửi giám định là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 9,297 kg.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng bên trong có sim số 0903510274;
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 92G1-10926;
  • 06 (sáu) hộp pháo nổ có khối lượng 9,297 kg;
  • 01 (một) vỏ thùng bia Tiger, 01 (một) vỏ thùng bia Larue.

Tại Cáo trạng số 14/CT-VKSQS ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường Đ về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường Đ phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”; căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng có hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; xử phạt bổ sung 10 đến 15 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) hộp pháo nổ có khối lượng 8,9 kg (mẫu vật sau giám định), 01 (một) vỏ thùng bia Tiger và 01 (một) vỏ thùng bia Larue được niêm phong bằng giấy trắng, có đóng dấu của Cơ quan Điều tra Công an huyện Q và chữ ký của người có liên quan; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng bên trong có sim số 0903510274; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 92G1-10926, số seri 352115456285543.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy người làm chứng đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:

Ngày 01/02/2024, bị cáo Đ đã có hành vi tàng trữ 9,297 kg pháo hoa nổ nhằm mục đích sử dụng để đốt trong dịp Tết Nguyên Đán Giáp Thìn. Pháo hoa nổ là pháo nổ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định số 137/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về “Quản lý, sử dụng pháo”. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường Đ đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, Cáo trạng số 14/CT-VKSQS ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ pháo nổ là vi phạm pháp luật và việc sử dụng pháo nổ có thể gây ra nhiều nguy hiểm, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lí, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hoá, tiềm ẩn nguy cơ cháy nổ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ba bị cáo là thương binh, bà nội của bị cáo được hưởng chính sách như thương binh. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng.

[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 7 Nghị định số 137/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về “Quản lý, sử dụng pháo”: tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) hộp pháo nổ có khối lượng 8,9 kg (mẫu vật sau giám định), 01 (một) vỏ thùng bia Tiger và 01 (một) vỏ thùng bia Larue được niêm phong bằng giấy trắng, có đóng dấu của Cơ quan Điều tra Công an huyện Q và chữ ký của người có liên quan; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng bên trong có sim số 0903510274; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 92G1-10926, số seri 352115456285543.

[8]. Những vấn đề khác trong vụ án: đối với người thanh niên tên V đã bán pháo nổ: bị cáo khai quen biết trước đây do cũng làm công ty M ở D, bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ. Bị cáo không nhớ tên công ty M. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được đối tượng tên V nên không có cơ sở để xử lý.

[9]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 293, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 7 Nghị định số 137/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về “Quản lý, sử dụng pháo”; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Trường Đ phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

    Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trường Đ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: xử phạt bị cáo Nguyễn Trường Đ số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy 06 (sáu) hộp pháo nổ có khối lượng 8,9 kg (mẫu vật sau giám định). (Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Kho vật chứng Công an huyện Q, tỉnh Quảng Nam)
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) vỏ thùng bia Tiger và 01 (một) vỏ thùng bia Larue được niêm phong bằng giấy trắng, có đóng dấu của Cơ quan Điều tra Công an huyện Q và chữ ký của người có liên quan.
    • - Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng bên trong có sim số 0903510274 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter biển số 92G1-10926, số seri 352115456285543.

    (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024).

  4. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06-6-2024).
  6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Quế Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Quế Sơn;
  • - Văn phòng Công an huyện Quế Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Quế Sơn;
  • - Phòng Hồ sơ CA huyện Quế Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Bị cáo, người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mai Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự sơ thẩm (tàng trữ hàng cấm)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường Đ phạm tội "tàng trữ hàng cấm" theo khoàn 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger