Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 16/2024/HSST

Ngày: 10-01 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vỵ.
  2. Bà Hoàng Hải Yến.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (60 N, phường V, thành phố H)Tòa án nhân dân thành phố Huế đã tiến hành xét sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 371/2023/HSST ngày 29/11/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 365/2023/QĐXXST- HS ngày 26/12/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Phước H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/9/1958 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Căn cước công dân số: [...]; Nơi cư trú và chổ ở hiện nay: Tổ dân phố X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đ (đã chết); Con bà: Trần Thị C (đã chết); Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Lê Thị Thúy H1, sinh năm 1965; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 1993;

Quá trình nhân thân:

Sinh ra và lớn lên tại tổ dân phố X, phường T, thành phố H, lớn lên học đến lớp 12 thì nghỉ học ở nhà với bố mẹ. Sau đó, làm thuê lao động tự do sinh sống tại tổ dân phố X, phường T, thành phố H.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị can bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 18/9/2023 cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Lê Thị Thúy H1, sinh năm: 1965.Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03/09/2023, Đặng Phước H đi xe mô tô mang biển số 75K8-7465, màu xám - bạc - đen đi đến bãi tắm biển trước nhà hàng S1 của chị Nguyễn Thị S thuộc tổ dân phố M, phường T, thành phố H để tắm biển. Sau khi tắm xong, Đặng Phước H đi bộ vào trong khuôn viên nhà hàng S1, quan sát không thấy người trông giữ nên H đi vào phòng ngủ tìm tài sản trộm cắp. Đặng Phước H phát hiện trong túi ni lông để trong tủ áo quần có số tiền 8.950.000 đồng nên H đã lấy hết số tiền này bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi phòng ngủ. Lúc này, chị S phát hiện Đặng Phước H trong quán đi ra, nghi ngờ H lấy trộm tài sản nên chị S đã hô hoán người nhà giữ H lại. Sau đó, chị Nguyễn Thị S báo cho Công an phường T, thành phố H đến làm việc. Đặng Phước H đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp số tiền trộm được cho cơ quan Công an phường T.

* Vật chứng thu giữ.

+ Thu giữ của Đặng Phước H: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8 - 7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149, xe đã qua sử dụng;

- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 75K8-7465 mang tên Lê Thị Uyên P;

- 01 (một) giấy biên nhận mua bán xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8-7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149.

  • 05 (năm) tờ tiền polyme mệnh giá 500.000 đồng;
  • 06 (sáu) tờ tiền polyme mệnh giá 200.000 đồng;
  • 46 (bốn mươi sáu) tờ tiền polyme mệnh giá 100.000 đồng;
  • 13 (mười ba) tờ tiền polyme mệnh giá 50.000 đồng;

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 8.950.000 đồng cho bà Nguyễn Thị S và bà S không yêu cầu gì về mặt dân sự.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị S đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị can Đặng Phước H.

Tại cáo trạng số 380/CT - VKSTPH ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Đặng Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Phước H phạm tội” Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Phước H từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

* Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại là chị Nguyễn Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên xử: Trả lại cho bà Lê Thị Thúy H1:

+ 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8 - 7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149;

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 75K8-7465 mang tên Lê Thị Uyên P;

+ 01 (một) giấy biên nhận mua bán xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8-7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149.

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc đối tượng người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đặng Phước H miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Vào khoảng 04 giờ 30 phút ngày 03/09/2023, tại nhà hàng S1 thuộc tổ dân phố M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Đặng Phước H đã lén lút lấy trộm của chị Nguyễn Thị S số tiền 8.950.000 đồng. Vi vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế truy tố bị cáo Đặng Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Đặng Phước H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Do bản tính tham lam nên đã lén lút lợi dụng sự sơ hở của chị Nguyễn Thị S trong việc quản lý và bảo vệ tài sản. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và làm gương cho kẻ khác. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cẩn xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên toà là có căn cứ. Sau khi xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo Đặng Phước H chấp hành hình phạt tù mà nên cho bị cáo H được hưởng án treo, giao bị cáo H cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách được quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại là chị Nguyễn Thị S đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8 - 7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149 quá trình điều tra xác định được chiếc xe mô tô tên chủ sở hữu là Lê Thị Uyên P và chị P đã bán lại cho anh Cung Trọng L. Vào năm 2011 anh L đã bán lại chiếc xe mô tô này cho bà Lê Thị Thúy H1 (có giấy tờ mua bán). Vào ngày 03/9/2023 bà H1 không biết bị cáo H sử dụng xe mô tô này để đi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản của bà Lê Thị Thúy H1 nên cần trả lại cho bà Lê Thị Thúy H1:

+ 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8 - 7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149;

+ 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 75K8-7465 mang tên Lê Thị Uyên P;

+ 01 (một) giấy biên nhận mua bán xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8-7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí nên bị cáo H được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ vào khoản 1 điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Tuyên bố bị cáo Đặng Phước H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt: Bị cáo Đặng Phước H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(Một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Đặng Phước H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án Hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tuyên xử: Trả lại cho bà Lê Thị Thúy H1:
    • + 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8 - 7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149;
    • + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 75K8-7465 mang tên Lê Thị Uyên P;
    • + 01 (một) giấy biên nhận mua bán xe mô tô hiệu HONDA Wave xám-bạc-đen, biển số 75K8-7465, số khung: C43E0500125, số máy 3129Y000149.
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q;

    Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị H1) có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (chị S) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 16/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ - TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Phước Hòa phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger