Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 30 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sinh và ông Phạm Ngọc Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Vĩnh Thụy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường, trụ sở Ủy ban nhân dân xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

  1. Nguyễn Văn C (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 28/10/19xx tại xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) lớp 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy N và bà Nguyễn Thị T; chưa có vợ và con; tiền án: 01, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/9/2020, bị cáo đã bị Hạt kiểm lâm khu bảo tồn thiên nhiên K (Nay là Khu dự trữ thiên nhiên K) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định số 856/QĐ-XPVPHC. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/01/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo - Bà Đỗ Thị Xuân, là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn, theo Quyết định số 54/QĐ-TGPL ngày 07/3/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn về việc cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, (Có mặt);

  1. Người có quyền lợi liên quan:
    • - Ông Nguyễn Duy L, sinh năm 19xx, (Có mặt);
    • Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

    • - Bà Chu Thị N, sinh năm 19xx, (Vắng Mặt).
    • Địa chỉ: Thôn P, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 45 phút, ngày 19/01/2024, tại đoạn đường bê tông liên thôn thuộc thôn H, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ Công tác Công an huyện N trong quá trình tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự thì phát hiện một nam giới đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Angle BKS 49V2-xxx đang di chuyển theo hướng từ thôn B, xã K – Trung tâm thị trấn Y có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy. Tiến hành yêu cầu dùng xe kiểm tra thì đồng thời ngay lúc đó, tổ công tác thấy đối tượng ném một gói nhỏ màu đen ra lề đường bên phải theo hướng di chuyển của xe mô tô. Khi dừng xe xác định được đối tượng là Nguyễn Văn C trú tại thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Kiểm tra trên người C và xe mô tô BKS 49V2-xxxx không phát hiện đồ vật, tài liệu gì. Sau đó tổ công tác tìm kiếm tại khu vực xung quanh gần nơi C dừng xe mô tô, phát hiện trên bụi cỏ vệ đường 01 túi nilon màu đen, nghi vấn là bên trong có chứa chất ma túy. Tổ công tác đã mời các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ 01 gói nilon màu đen tại vị trí cách xe mô tô đồng thời cũng là vị trí C bị dừng xe kiểm tra 02m, tại lề đường bên phải theo hướng thôn B, xã K – Thị trấn Y; sau đó tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong gói nilon màu đen có 01 gói giấy, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục. Tổ công tác tiến hành trích một lượng nhỏ chất màu trắng thử với thuốc thử Heroine do Bộ Công an cung cấp, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím trùng với màu nhận biết ma túy (Heroine). Sau đó, tổ công tác đã gói lại như ban đầu và niêm phong trong phong bì màu trắng ký hiệu A1. Ngoài ra còn tạm giữ của C 01 xe mô tô BKS 49V2-xxxx.

Hồi 12 giờ 36 phút ngày 19/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N lập biên bản tiến hành xét nghiệm nhanh ma túy đối với Nguyễn Văn C, kết quả dương tính, có sử dụng ma túy.

Hồi 14 giờ 25 phút ngày 19/01/2024, tại trụ sở Công an huyện N cùng có mặt Nguyễn Văn C đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất màu trắng dạng cục thu giữ tại hiện trường. Kết quả số chất màu trắng dạng cục đã thu giữ có tổng khối lượng là 0,258g. Sau khi cân xác định khối lượng, số chất màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu B1 để làm thủ tục gửi giám định theo quyết định trưng cầu giám định số 39 ngày 20/01/2024. Số vật chứng còn lại gồm 01 mảnh nilon; 01 mảnh giấy một mặt màu trắng, một mặt màu vàng; 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong được cho vào phong bì mới ký hiệu C1.

Ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ban hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp số 09 đối với Nguyễn Văn C vào hồi 07 giờ 30 phút ngày 20/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N thi hành lệnh khám xét khẩn cấp số 10 ngày 20/01/2024 đối với nơi ở, công trình phụ cận có liên quan của Nguyễn Văn C tại thôn N, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn nhưng không phát hiện, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản kết luận giám định số 61/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,258g. Sau giám định mẫu chất bột gửi giám định còn 0,195g cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T49 hoàn trả lại cho cơ quan trưng câu.

Ngày 18/3/2024, Công an huyện N ban hành văn bản số 77/CSĐT v/v Tra cứu thông tin phương tiện xe mô tô nhãn hiệu Angle BKS 49V2-xxxx loại xe hai bánh, dung tích xi lanh 97,2 cm³, số khung: RLGXA10CD5D141xxx, số máy: VMEVA2141xxx. Tại phiếu trả lời xác minh của Công an huyện N đã cung cấp thông tin: Biển số xe 49V2-xxxx đăng ký ngày 20/5/2005; chủ xe: Liêu Văn D; địa chỉ: T8, Đạ Tẻh, Lâm Đồng; loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; Nhãn hiệu: ANGLE; số loại: VA2; Màu sơn: Xanh; số máy VMEVA2141xxx; Số khung: RLGXA10CD5D141xxx; dung tích 97cm³; số chỗ ngồi: 2. Tại thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 04 ngày 21/3/2024 của Công an huyện N thông báo kết quả tra cứu: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn C khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 19/01/2024, một mình C điều khiển xe mô tô BKS 49V2-xxxx từ nhà C đến Trung tâm y tế huyện Na Rì để uống thuốc Methadone. Sau khi uống thuốc xong, C điều khiển xe mô tô đến khu vực thôn B, xã K với mục đích tìm mua ma túy về sử dụng, tại đây C gặp và hỏi mua ma túy với một người đàn ông không quen biết có biểu hiện nghiện ma túy và được người đàn ông này bán cho 01 gói nhỏ ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau đó C cầm gói ma túy bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô ra Trung tâm thị trấn Y, đến đoạn đỉnh dốc gần Trường mầm non xã K thuộc thôn H, xã K thì bị tổ công tác Công an huyện N yêu cầu dừng xe kiểm tra; do lo sợ bị phát hiện nên C đã ném gói nilon màu đen có chứa chất ma túy vào bụi cỏ lề đường bên phải cách vị trí C đang đứng khoảng 2m theo hướng di chuyển của C và tổ công tác đã lập biên bản sự việc và khám nghiệm hiện trường thu giữ gói nilon màu đen cùng chiếc xe mô tô BKS 49V2-xxxx và đưa C về Công an huyện N. Mục đích C tàng trữ chất ma túy là để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Lời khai trên của Nguyễn Văn C phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo thủ tục tố tụng hình sự có trong hồ sơ vụ án; bản thân C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông ngoại là Nguyễn Văn T được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì và có 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm;

Vật chứng và đồ vật thu giữ trong vụ án gồm:

  • - 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1 (Bên trong có chứa 01 phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong và giấy gói cũ); 01 phong bì niêm phong ký hiệu T49 bên trong có chứa 0,195g ma túy còn lại sau giám định cùng phong bì, bao gói cũ;
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Angle, màu sơn xanh, BKS 49V2-xxxx loại xe hai bánh, dung tích xi lanh 97,2 cm³, số khung: RLGXA10CD5D141xxx, số máy: VMEVA2141xxx (Xe cũ đã qua sử dụng).

Các vật chứng hiện đang được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Với các tình tiết trên, tại bản cáo trạng số: 17/CT-VKS-NR ngày 02/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử Nguyễn Văn C về tội: "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015).

Tại phiên tòa Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi, động cơ, mục đích phạm tội của mình đúng như lời khai của C tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố. Ngoài ra C còn khai nhận, do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất ma túy. Còn chiếc xe mô tô BKS 49V2-xxxx của anh trai ruột Nguyễn Duy L được C mượn sử dụng. Khi mượn chiếc xe mô tô này thì ông L, bà N không biết việc C mượn xe mô tô để đi mua ma túy. Ngoài số ma túy bị thu giữ và chiếc xe mô tô bị tạm giữ ra, thì C không bị cơ quan chức năng tạm giữ đồ vật, tài sản gì khác. C cho biết bản thân là người nghiện ma túy; nghề nghiệp tự do; thuộc hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nên xin được miễn hình phạt bổ sung. Tại phiên tòa và lời nói sau cùng, C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền và tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan – Ông Nguyễn Duy L khai nhận lời khai của mình đúng như lời khai của ông L tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angle BKS 49V2-xxxx được ông L mua lại của một người đàn ông không quen biết tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng vào năm 2006 với giá 5.000.000 đồng không làm giấy tờ mua bán; còn giấy đăng ký xe mô tô, xe máy của chiếc xe mô tô này ông L đã làm mất. Chiếc xe này được ông L cho em trai ruột là Nguyễn Văn C mượn sử dụng làm phương tiện đi lại, chứ ông không biết việc C mượn xe mô tô của ông đi mua ma túy. Do vậy ông L đề nghị xin lại chiếc xe mô tô BKS 49V2-xxxx đang bị cơ quan chức năng tạm giữ trong vụ án. Ngoài ra ông L không còn có ý kiến gì khác

Tại biên bản ghi lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi liên quan - Bà Chu Thị N trình bày: Bà N là vợ ông L. Chiếc xe mô tô BKS 49V2-xxxx là tài sản chung của vợ chồng bà. Khoảng đầu năm 2023, ông L có cho Nguyễn Văn C mượn sử dụng từ đó cho đến nay. Khi ông L cho C mượn xe thì bà N không biết mục đích mượn xe của C để sử dụng vào việc đi mua ma túy. Do vậy, bà N yêu cầu được cơ quan chức năng trả lại chiếc xe cho vợ chồng bà N. Ngoài ra bà N không có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy". Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; Điều 38, 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS 2015; Điều 106 của bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015): Xử phạt bị cáo từ 01 năm 6 tháng tù đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 20/01/2024); không áp dụng phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;

Biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T49;

Trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angle BKS 49V2-xxxx; loại xe hai bánh, dung tích xi lanh 97,2 cm³, số khung: RLGXA10CD5D141xxx, số máy: VMEVA2141xxx (Xe cũ đã qua sử dụng) cho ông Nguyễn Duy L và bà Chu Thị N.

Án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo, bà Đỗ Thị Xuân, trình bày: Nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo để cân nhắc khi quyết định mức hình phạt; cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là 18 tháng tù để bị cáo có điều kiện nhận thức lỗi lầm và hoàn lương; không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn tiền án phí hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện N, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi liên quan là bà Chu Thị N. Những người tham gia tố tụng có mặt và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N đều yêu cầu Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử do bà Chu Thị N đã có lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vắng mặt bà N theo quy định tại Điều 292 của BLTTHS 2015.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo; người có quyền lợi liên quan và với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn C, do nghiện ma túy nên ngày 19/01/2024 đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân chứ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,258g Heroine. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã bị cơ quan Công an huyện N phát hiện và thu giữ vào khoảng 10 giờ 45 phút ngày 19/01/2024 tại đoạn đường bê tông liên thôn thuộc thôn H, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tội tàng trữ phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của BLHS 2015, nội dung điều luật quy định: "1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...c) Heroine, có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”.

[3] Xét các tình tiết quyết định mức hình phạt:

[3.1] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý các chất biệt dược của Nhà nước; gây ra các tệ nạn ma túy, tệ nạn xã hội; để lại hậu quả nặng nề cho gia đình có người nghiện và xã hội; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

[3.2] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự. Ngày 04/9/2020, bị cáo đã bị Hạt kiểm lâm khu bảo tồn thiên nhiên K (Nay là Khu dự trữ thiên nhiên K) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển, mua bán lâm sản trái phép bằng hình thức phạt tiền là 20.000.000 đồng theo Quyết định số 856/QĐ-XPVPHC. Tiền án: Ngày 31/8/2021, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện N tuyên phạt bằng bản án số 23/2021/HS-ST về tội “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” với mức hình phạt 06 tháng tù giam. Ngày 16/6/2022, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù theo Giấy chứng nhận số 813/GCN của Trại giam Phú Sơn 4 – Cục C10. Khi chưa hết thời gian để được coi là đương nhiên được xóa án tích theo điểm a khoản 2 Điều 70 của BLHS 2015, thì ngày 19/01/2024 bị cáo tiếp tục phạm tội mới. Bị cáo đã từng bị áp dụng biện pháp quản lý cưỡng chế của Nhà nước nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục phạm tội cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo kém, nên cần được xem xét khi quyết định mức hình phạt.

[3.3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố của mẹ đẻ bị cáo (Ông ngoại) là ông Nguyễn Văn T được Hội đồng Nhà nước Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì theo Nghị quyết số 707KT/HĐNN ngày 13/8/1985 nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015; bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS 2015.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; các tình tiết quyết định mức hình phạt và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để tiếp tục giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để tuyên truyền pháp luật đạt hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm về ma túy. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định và là người nghiện ma túy. Tại phiên tòa, bị cáo xin được miễn hình phạt bổ sung. Từ các tình tiết trên, Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo không có khả năng thi hành án hình phạt bổ sung bằng tiền nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp và có căn cứ.

[4] Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo vào ngày 19/01/2024 tại khu vực thôn B, xã K, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, do không xác định được lai lịch của người này nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý theo pháp luật là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angle BKS 49V2-xxxx mà Nguyễn Văn C sử dụng để đi mua ma túy qua điều tra, xác định là tài sản chung của ông Nguyễn Duy L và bà Chu Thị N. Khi ông L cho Nguyễn Văn C mượn xe mô tô thì ông L và bà N không biết việc C sử dụng chiếc xe mô tô này để đi mua ma túy; nhưng Cơ quan CSĐT Công an huyện N không có kết luận, đánh giá về hành vi cho bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội của ông L là chưa đầy đủ. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã bổ sung quan điểm về hành vi cho mượn xe của ông L không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên đề nghị không xem xét xử lý đối với ông Nguyễn Duy L là có căn cứ.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1 (Bên trong có chứa 01, phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong và giấy gói cũ); 01 phong bì niêm phong ký hiệu T49 bên trong có chứa 0,195g ma túy còn lại sau giám định cùng phong bì, bao gói cũ là vật chứng của vụ án nhưng đã có kết luận giám định theo tố tụng hình sự và là vật do Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Angle, màu sơn xanh, BKS 49V2-xxxx loại xe hai bánh, dung tích xi lanh 97,2 cm³, số khung: RLGXA10CD5D141xxx, số máy: VMEVA2141xxx (Xe cũ đã qua sử dụng) qua điều tra xác định được: Chiếc xe mô tô Biển số xe 49V2-xxxx (Hiện đã mất Giấy Đăng ký xe mô tô, xe máy) được đăng ký ngày 20/5/2005; chủ xe: Liêu Văn D; địa chỉ: T8, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh, Lâm Đồng; loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³; Nhãn hiệu: ANGLE; số loại: VA2; Màu sơn: Xanh; số máy VMEVA2141xxx; Số khung: RLGXA10CD5D141xxx; dung tích 97cm³; số chỗ ngồi: 2. Chiếc xe được ông L mua lại của một người đàn ông không quen biết tại thành phố Cao Bằng vào năm 2006. Tại thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 04 ngày 21/3/2024 của Công an huyện N thông báo kết quả tra cứu về chiếc xe mô tô BKS 49V2-xxxx: Không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Chiếc xe mô tô trên được ông L mua trong thời kỳ hôn nhân và không có tranh chấp, nên xác định chiếc xe mô tô này là tài sản chung của ông L, bà N. Khi ông L cho bị cáo mượn chiếc xe mô tô này thì ông L, bà N không biết mục đích mượn xe mô tô của bị sử dụng vào việc phạm tội nên xác định chiếc xe mô tô này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần hoàn trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 07/5/2024.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C là người dân tộc thiểu số và thuộc hộ nghèo sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt có khăn và có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm của người bào chữa về các tình tiết liên quan đến tài sản, nhân thân người phạm tội; điều luật áp dụng, tội danh; biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo; quan điểm truy tố, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS 2015;

Căn cứ các Điều 106, 292, 329, 331, 333 của BLTTHS 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

[1] Về tội phạm: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C (Tên gọi khác: Không) phạm tội "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt:

  • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 20/01/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.

  • - Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[3] Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1 (Bên trong có chứa 01, phong bì ký hiệu A1 đã mở niêm phong và giấy gói cũ); 01 phong bì niêm phong ký hiệu T49 bên trong có chứa 0,195g ma túy còn lại sau giám định cùng phong bì, bao gói cũ.

  • - Trả lại cho ông Nguyễn Duy L và bà Chu Thị N: 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGLE; Màu sơn: Xanh; số máy VMEVA2141xxx; số khung: RLGXA10CD5D141xxx; dung tích 97,2 cm³; số chỗ ngồi: 2; BKS 49V2-xxxx; loại xe hai bánh.

Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 07/5/2024.

[4] Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi liên quan, ông Nguyễn Duy L có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Chu Thị N vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; người có quyền lợi liên quan;
  • - Người bào chữa;
  • - VKS huyện N; VKS tỉnh Bắc Kạn;
  • - TA tỉnh Bắc Kạn;
  • - Sở Tư pháp Bắc Kạn;
  • - Công an huyện N;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Kạn;
  • - Phòng quản lý hồ sơ CA Huyện;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

TRẦN QUANG HÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger