Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦN GIỜ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 29/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Lộc

2. Bà Mai Thị Tuyết Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Bích Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Minh T, sinh ngày 23/4/1996; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 2/110 ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1978; Vợ, con: Không có; Anh, chị, em: Không có.

Tiền án: Bản án số 24/2022/HSST ngày 27/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tuyên phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Ngày 14/12/2023 bị Công an xã L, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân:

  • + Ngày 05/11/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + Ngày 29/12/2020 bị Công an xã L, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/01/2024 đến ngày 09/02/2024 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Phan Văn D, sinh ngày 17/8/1996; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Tiền Giang; Hộ khẩu thường trú: 29 ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Đức T1, sinh năm: 1976 và bà: Cao Thị N, sinh năm: 1977; Vợ: Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1997 (đã ly hôn); Con: Có 02 người (lớn nhất sinh năm: 2015, nhỏ nhất, sinh năm: 2018); A, chị, em: Có 01 người em sinh năm: 2000.

Tiền án: Bản án số 24/2022/HSST ngày 27/9/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tuyên phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

Tiền sự: Ngày 30/01/2024 bị Công an xã L, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Bản án số 28/2013/HS-ST ngày 16/9/2013 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ tuyên phạt 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/01/2024 đến ngày 09/02/2024 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Ngọc T2, sinh năm: 1988. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bà Huỳnh Thị Hồng H1, sinh năm: 1979. (vắng mặt)

Địa chỉ: B Tổ A, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 ngày 30/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Minh T điều khiển xe máy, biển số 59M1-366.40 đi đến khu vực gần cầu Ô thuộc xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên T3 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, được 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại heroine. Sau khi mua ma túy, T đi xuống chân cầu Ô rồi lấy ma túy ra sử dụng một ít, số còn lại T cất giấu trong người và ngồi đó chơi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Phan Văn D điện thoại cho T để hỏi T còn ma túy không để D cùng T sử dụng và T trả lời chỉ còn một ít ma túy nhưng hiện tại đang ở xã B, huyện B và đã hết tiền đổ xăng để đi về, rồi T kêu D chuyển tiền cho T để đổ xăng và mua thêm ma túy về cùng nhau sử dụng và D đồng ý. Sau đó D đã nhờ chị Nguyễn Ngọc T2 chuyển khoản cho T số tiền 300.000 đồng, rồi T đã dùng số tiền này để đổ xăng và tiếp tục đi đến khu vực trên gặp người thanh niên tên T3, mua ma túy với số tiền 100.000

đồng, được 01 gói giấy bạc bên trong là ma túy, loại heroine, rồi T lấy số ma túy còn lại trước đó bỏ vào chung với gói ma túy vừa mua và cất giấu trong người, đồng thời điều khiển xe máy trên đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày, khi TD đang ở trong phòng của T tại nhà số B ấp Đ, xã L, huyện C để chuẩn bị cùng nhau sử dụng ma túy thì bị Công an huyện C kiểm tra phát hiện, bắt quả tang TD có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại Heroine và tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng có liên quan.

Ngoài ra, trước đó Nguyễn Minh TPhan Văn D đã 03 lần hùn tiền nhau để mua ma túy của thanh niên tên T3 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) trên, tại khu vực gần cầu Ô thuộc xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, với số tiền mỗi lần 200.000 đồng, loại ma túy Heroine, với mục đích để sử dụng.

Kết luận giám định số: 2086/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2556g (không phẩy hai năm năm sáu gam), loại Heroine (H).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Phan Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2556 gam, loại heroine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,2217 gam.
  • - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y15A, màu xanh dương, đã qua sử dụng.
  • - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu tím, đã qua sử dụng.
  • - 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ - đen, biển số: 59M1-366.40, đã qua sử dụng, do Nguyễn Minh T mượn của người thanh niên tên H2 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) và H2 cũng không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác minh từ biển số 59M1-366.40 cho kết quả là xe máy nhãn hiệu Honda, loại Airblade và xác minh từ số khung, số máy của chiếc xe đã thu giữ cho kết quả là xe máy có biển số 59N1-104.93, do chị Huỳnh Thị Hồng H1 đứng tên chủ sở hữu. Chị H1 đã bán chiếc xe trên cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy tìm người tên H2 và ra thông báo truy tìm chủ sở hữu của chiếc xe nhưng chưa có kết quả, khi nào đến thời hạn có kết quả sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Qua quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-H.CG ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D về tội “Tàng

trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau: Từ giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc trường hợp quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Phan Văn D đã bị kết án tại Bản án số 24/2022/HSST ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Từ những phân tích trên, đai diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • + Áp dụng Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Văn D từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy: 01 gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T, Phan Văn D, hình dấu Công an xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Đại úy Nguyễn Thanh Đ, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, Cán bộ Đội CSĐTTP về KT&MT Công an huyện C, bên trong có 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy, ở thể rắn, loại Heroine, có khối lượng 0,2556 gam, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,2217 gam. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y15A, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu tím, đã qua sử dụng.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKS-HCG ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D thừa nhận hành vi

như cáo trạng là đúng, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được cũng như diễn biến tại phiên tòa. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 00 ngày 30/01/2024, tại nhà số B ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Phan Văn D đã bị Công an huyện C bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2556 gam, loại Heroine, với mục đích sử dụng. Tại Kết luận giám định số: 2086/KL-KTHS ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2556g (không phẩy hai năm năm sáu gam), loại Heroine (H). Hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo tội danh, điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D trước đó đã 03 (ba) lần hùn tiền nhau mua ma túy, thì bị cáo T và bị cáo D chia nhau sử dụng riêng biệt nên không có dấu hiệu của tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo Nguyễn Minh T và bị cáo Phan Văn D có 01 tiền án chưa được xóa án tích, là người có nhân thân không tốt, bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài

học cho bản thân, tích cực lao động, rèn luyện phấn đấu trở thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội mà các bị cáo lại tiếp tục phạm tội, chứng tỏ các bị cáo vẫn coi thường kỷ cương, pháp luật, cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm đối với các bị cáo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt mà lẻ ra các bị cáo phải chịu.

[4] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về các tình tiết khác của vụ án: Đối với người thanh niên tên T3 đã nhiều lần bán ma túy cho bị cáo T và bị cáo D do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không triệu tập tham gia tố tụng, đề nghị Cơ quan Điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với Nguyễn Ngọc T2 chỉ làm dịch vụ chuyển tiền và khi bị cáo D yêu cầu chuyển tiền cho bị cáo T thì T2 không biết chuyển tiền để mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.

Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

- Căn cứ vào Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phan Văn D 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.

Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T, Phan Văn D, hình dấu Công an xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chữ ký giám định viên ghi tên Đại úy Nguyễn Thanh Đ, chữ ký ghi tên Phạm Văn S, Cán bộ Đội CSĐTTP về KT&MT Công an huyện C, bên trong có 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy, ở thể rắn, loại Heroine, có khối lượng 0,2556 gam, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,2217 gam.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Vivo Y15A, màu xanh dương, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu tím, đã qua sử dụng.

Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 16/QĐ-VKS-HCG ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.

3. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Các bị cáo Nguyễn Minh TPhan Văn D mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Công an huyện Cần Giờ;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND huyện Cần Giờ;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Giờ;
  • - UBND xã Long Hòa, huyện Cần Giờ;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Lưu văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Nguyễn Minh T và Phan Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger