|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày 24-09-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lự
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Xa Tiến Đắc
Bà: Phạm Thị Dần
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Thanh Huyền- Thư ký Tòa án
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc tham gia phiên tòa: Ông Lường Tiến Long - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 09 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2024/HSST - TL ngày 09 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 09 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Hà Văn K, sinh ngày 20/11/1983 tại Hoà Bình.
- Họ và tên: Hà Thị T1, 03/02/1983 tại Hòa Bình.
Nơi cư trú: Xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Đ, sinh năm 1960 và con bà Xa Thị T, sinh năm 1963; Có vợ là Hà Thị T1, sinh năm 1983 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 20/5/2024, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà.
Nơi cư trú: Xóm P, xã T huyện Đ, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn Đ1, sinh năm 1963 và con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1963; Có chồng là Hà Văn K, sinh năm 1983 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2012
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến ngày 20/5/2024, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/5/2024 đến nay, có mặt tại phiên toà
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Văn A, sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Anh Bàn Văn L, sinh năm 1988, trú tại xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Quách Công Q, sinh năm 1981, trú tại xóm K, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Quách Công K1, sinh năm 1984, trú tại xóm K, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Anh Lường Văn D, sinh năm 1984, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Anh Phạm Văn Đ2, sinh năm 1981, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Đinh Văn S, sinh năm 1973, trú tại xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Bùi Văn H, sinh năm 1979, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Anh Triệu Văn T2, sinh năm 1973, trú tại xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Quách Công Đ3, sinh năm 1976, trú tại xóm K, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt tại phiên tòa
- Anh Hà Văn T3, sinh năm 1989, trú tại xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Ông Lường Văn P, sinh năm 1953, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Anh Lường Văn Q1, sinh năm 1987, trú tại xóm Phổn, xã Tân Pheo, huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt
- Chị Lường Thị L1, sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Văn K - sinh năm 1983 và Hà Thị T1 - sinh năm 1983 cùng trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình có mối quan hệ là vợ chồng. K và T1 đều là lao động tự do trong đó công việc chính của K là buôn bán, giết mổ trâu bò tại khu vực xã T và các xã lân cận. Quá trình buôn bán, đi lại tiếp xúc với nhiều người, Hà Văn K biết được một số người có nhu cầu vay tiền để chi tiêu, nắm bắt được điều đó, K đã nảy sinh ý định và cùng với T1 thực hiện việc cho vay lãi nặng để thu lời bất chính. Hà Văn K và Hà Thị T1 đã cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với mức lãi suất thỏa thuận từ 3.000đ đến 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày tương ứng từ 109,5% đến 182,5%/1 năm, mức lãi suất trên vượt quá từ 5,48 đến 9,13 lần mức lãi suất cao nhất (20%) quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng Kiểu là người trực tiếp đứng ra thỏa thuận các khoản vay và lãi suất khác nhau, hướng dẫn người vay viết giấy vay nợ không ghi mức lãi suất; T1 là người quản lý tiền, các giấy tờ, sổ sách liên quan đến việc cho vay lãi. Đối với các khoản vay đã đến hạn trả Kiểu, T1 thường gặp người vay để chốt nợ, qua các lần chốt đều thỏa thuận với con nợ viết lại giấy vay nợ mới theo số tiền đã chốt và tiếp tục tính lãi với tổng cả số tiền gốc cộng lãi cũ mà người vay chưa trả được.
Từ cuối năm 2020 đến tháng 5 năm 2024 với phương thức, thủ đoạn như trên Hà Văn K và Hà Thị T1 đã cho tổng số 14 (mười bốn) người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tổng số tiền K, T1 đã cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vay là 256.050.000đ (hai trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), nhằm thu lợi số tiền 442.955.500đ (bốn trăm bốn mươi hai triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng), trong đó thu lợi bất chính nhằm thu để truy cứu trách nhiệm hình sự là 379.990.623đ (ba trăm bảy mươi chín triệu chín trăm chín mươi nghìn sáu trăm hai mươi ba đồng). Thực tế tổng số tiền K, T1 đã thu lãi là 121.435.000đ (một trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi lăm nghìn đồng) tương ứng với lãi suất từ 105,2% đến 237,7% (vượt quá từ 5,26 lần đến 11,88 lần lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự), thu lợi bất chính 108.114.123đ (một trăm linh tám triệu một trăm mười bốn nghìn ba một trăm hai mươi ba đồng). Cụ thể với từng người có quyền và nghĩa vụ liên quan như sau:
- Anh Hà Văn A – sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Bàn Văn L - sinh năm 1988, trú tại xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Quách Công Q – sinh năm 1981, trú tại xóm K, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Quách Công K1 – sinh năm 1984, trú tại xóm K, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Lường Văn D – sinh năm 1984, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Phạm Văn Đ2 – sinh năm 1981, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Đinh Văn S – sinh năm 1973, trú tại xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Bùi Văn H – sinh năm 1979, trú tại xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Triệu Văn T2 – sinh năm 1973, trú tại xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Quách Công Đ3 – sinh năm 1976, trú tại xóm K, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Hà Văn T3 – sinh năm 1989, trú tại xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Ông Lường Văn P – sinh năm 1953, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Anh Lường Văn Q1 – sinh năm 1987, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
- Chị Lường Thị L1 – sinh năm 1988, trú tại xóm N, xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.
Khoảng tháng 12/2020, anh Hà Văn A đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất thỏa thuận là 3.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Kiểu hướng dẫn anh A viết một giấy vay nợ không ghi lãi suất rồi đưa tiền mặt cho anh A.
Lần chốt nợ thứ nhất: Khoảng cuối tháng 05/2021 anh A đến nhà K để chốt nợ, lúc này K chốt số tiền lãi của khoản vay là 4.320.000đ (tương ứng 180 ngày tiền lãi với lãi suất 109,5% gấp 5,48 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 3.530.959đ. Anh A trả cho K số tiền 2.000.000đ (tương ứng 83 ngày thực trả lãi) nên còn nợ lại cả gốc và lãi là 10.320.000đ. Từ thời điểm nay Kiểu bắt đầu tính lãi 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày với khoản nợ 10.000.000đ (Kiểu tính bớt cho anh A số tiền 320.000đ). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 83x8.000.000x20%/365 = 363.836đ, tổng tiền lãi thu lợi bất chính là 1.636.164₫.
Lần chốt nợ thứ hai: Ngày 21/6/2022 anh A đến nhà K để chốt nợ, lúc này K chốt số tiền lãi của khoản tiền 10.000.000₫ anh A đang nợ là 20.000.000đ (tương ứng 386 ngày tiền lãi với lãi suất 189% gấp 9,46 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 17.884.932đ. Anh A trả cho K 15.000.000đ (tương ứng 300 ngày thực trả lãi) nên còn nợ lại cả gốc và lãi là 15.000.000đ và cả hai thống nhất không tính lãi với số tiền này nữa. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 300x10.000.000x20/(100x365)= 1.643.836đ, tổng tiền lãi thu lợi bất chính là 13.356.164₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính qua hai lần chốt nợ đối với Hà Văn A là 21.415.891đ (Hai mươi mốt triệu bốn trăm mười lăm nghìn tám trăm chín mươi mốt đồng). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 2.007.672đ (hai triệu không trăm linh bảy nghìn sau trăm bảy mươi hai đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 14.992.328đ (mười bốn triệu chín trăm chín mươi hai nghìn ba trăm hai mươi tám đồng). Anh Hà Văn A chưa trả số tiền 8.000.000đ gốc đã vay cho Hà Văn K.
Ngày 25/01/2021, anh Bàn Văn L đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 25.500.000₫ (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng), với thỏa thuận mức lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/01. Do K không biết rõ L nên L có nhờ anh họ là Bàn Văn Q2 - sinh năm 1964 trú tại xóm B, xã T cùng đến gặp K để bảo lãnh khoản vay. Kiểu hướng dẫn anh L viết một giấy vay nợ không ghi lãi suất rồi đưa tiền mặt cho anh L.
Lần chốt nợ thứ nhất: Khoảng tháng 5 năm 2021, anh L đến nhà trả cho K 2.000.000đ tiền lãi (tương ứng 16 ngày tiền lãi). Ngày 08/6/2021 anh L cùng anh Q2 đến nhà K để chốt nợ, lúc này K chốt số tiền lãi của khoản vay 25.500.000₫ anh L đang nợ là 19.700.000đ (tương ứng 135 ngày tiền lãi với lãi suất 208,9% gấp 10,44 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 17.813.699đ. Tổng số nợ gốc và lãi thời điểm này là 43.200.000đ (đã trừ 2.000.000đ trả lãi trước đó) nhưng anh L trả thêm cho K số tiền lãi 10.000.000₫ (tương ứng 78 ngày thực trả lãi) nên còn nợ lại 33.200.000đ. Tháng 7 năm 2021 anh L cùng vợ là Triệu Thị T4 đến nhà K xin khất nợ và để lại 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Balde mang BKS 28D1-093.88 để làm tin. Đến tháng 8 năm 2022 K đến nhà L đòi tiền nợ nhưng L không có tiền trả nên đưa cho K cầm để làm tin 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 625285 mang tên Bàn Văn C của bố đẻ anh L là ông Bàn Văn C1. Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 94x25.500.000x20%/365)= 1.313.425đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 10.686.575₫.
Lần chốt nợ thứ hai: Ngày 19/9/2022 anh L đến nhà K để trả tiền, lúc này K tính số tiền lãi của khoản tiền 33.200.000₫ anh L đang nợ là 44.800.000đ (tương ứng 468 ngày tiền lãi với lãi suất 105,2% gấp 5,26 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 36.286.247đ. Tổng số nợ gốc và lãi thời điểm này là 78.000.000đ, anh L trả cho K 40.000.000đ (tương ứng 241 ngày thực trả lãi) và cả hai thống nhất không tính lãi với số tiền 38.000.000₫ L còn nợ K nữa. Tổng tiền lãi được phép thu là 241x33.200.000x20%/365)= 4.384.219đ, tổng tiền lãi thu lợi bất chính là 35.615.781₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính qua hai lần chốt nợ đối với Bàn Văn L là 59.099.946đ (năm mươi chín triệu không trăm chín mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi sáu đồng). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 5.697.644đ (năm triệu sáu trăm chín mươi bảy nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 46.302.356đ (bốn mươi sáu triệu ba trăm linh hai nghìn ba trăm năm mươi sáu đồng). Anh Bàn Văn L chưa trả số tiền 25.500.000đ gốc đã vay cho Hà Văn K và Hà Thị T1.
Ngày 29/01/2022, anh Quách Công Q đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Kiểu hướng dẫn anh Q viết vào một giấy vay nợ do K soạn sẵn có ghi lãi suất rồi đưa tiền mặt cho anh Q.
Lần chốt nợ thứ nhất: Khoảng tháng 3 năm 2022 K cùng vợ là Hà Thị T1 lên nhà anh Q để chốt nợ. Kiểu tính lãi khoản vay anh Q đang nợ là 4.800.000đ (tương ứng 60 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 4.273.973đ. Anh Q chưa có tiền trả gốc và lãi nên K sửa giấy vay nợ thành số tiền 20.800.000₫ và tiếp tục tính lãi số tiền này với mức 5.000₫/1.000.000đ/1ngày.
Lần chốt nợ thứ hai: Ngày 10/6/2022 vợ chồng K tiếp tục đến nhà anh Q để chốt nợ. Kiểu tính lãi khoản 20.800.000₫ anh Q đang nợ là 7.200.000đ (tương ứng 73 ngày tiền lãi với lãi suất 173,1% gấp 8,65 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 6.368.000đ. Anh Q chưa có tiền trả gốc và lãi nên K sửa giấy vay nợ cũ với số tiền 20.800.000₫ thành số tiền 28.000.000đ và tiếp tục tính lãi số tiền này với mức 5.000đ/1.000.000đ/1 ngày.
Lần chốt nợ thứ ba: Ngày 19/01/2023 vợ chồng K tiếp tục đến nhà anh Q để chốt nợ. Kiểu tính lãi khoảng 28.000.000₫ anh Q đang nợ là 31.220.000đ (tương ứng 223 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,125 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 27.798.630đ. Anh Q chưa có tiền trả gốc và lãi nên K yêu cầu anh Q viết giấy vay nợ mới vào một quyển sổ mà K, T1 mang theo với số nợ 59.220.000đ và thỏa thuận không tiếp tục tính lãi khoản vay này nữa.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K và Hà Thị T1 nhằm thu lợi bất chính qua ba lần chốt nợ đối với Quách Công Q là 38.440.603đ (ba mươi tám triệu bốn trăm bốn mươi nghìn sáu trăm linh ba đồng). Anh Quách Công Q chưa trả được khoản gốc 16.000.000₫ và khoản lãi nào cho Hà Văn K và Hà Thị T1.
Khoảng tháng 3/2022, anh Quách Công K1 đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Hà Thị T1 viết giấy vay nợ rồi đưa cho anh K1 ký rồi T1 đưa tiền mặt cho anh K1. Khoảng cuối tháng 02/2023 anh K1 có gặp K ở xã Đ thì trả 3.000.000đ tiền lãi cho K (tương ứng với 60 ngày tiền lãi).
Lần chốt nợ: Ngày 30/3/2023 anh K1 đến nhà K để chốt nợ, lúc này K nói khoản nợ của Quách Công K1 là do anh Đinh Văn K2 – sinh năm 1981 trú tại tiểu khu B, thị trấn Đ cho vay. Kiểu chốt số tiền lãi của khoản vay là 10.000.000đ (đã trừ đi 3.000.000đ tiền lãi trả trước đó). Tổng số nợ gốc và lãi thời điểm này là 20.000.000đ. Tổng lãi nhằm thu lợi tính đến thời điểm này là 13.000.000 (tương ứng 395 ngày tiền lãi với lãi suất 120,1% gấp 6,01 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 10.835.616₫. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 60x10.000.000x20/(100x365) = 328.767đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 2.671.233₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính đối với Quách Công K1 là 10.835.616đ (mười tám trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng). Thực thế tổng tiền lãi được phép đã thu là 328.767đ (ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 2.671.233 (hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng). Anh Quách Công K1 chưa trả số tiền 10.000.000đ gốc đã vay cho Hà Văn K.
Ngày 18/11/2022, anh Lường Văn D đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 4.250.000đ (bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn), với thỏa thuận mức lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Kiểu viết giấy vay nợ thời hạn vay 90 ngày và lãi suất 0% sau đó đưa cho anh D ký rồi đưa tiền mặt cho anh D.
Lần chốt nợ thứ nhất: Ngày 25/11/2022 anh D đến nhà K để chốt nợ, lúc này K tổng số nợ gốc và lãi thời điểm này là 4.390.000đ. Tổng lãi nhằm thu lợi tính đến thời điểm này là 170.000đ (tương ứng 8 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 151.370đ. Anh D trả số tiền 2.000.000 (trong đó lãi 140.000đ) và nợ lại 2.390.000đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 8x4.250.000x20%/365) = 18.630đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 121.370đ.
Lần chốt nợ thứ hai: Khoảng 1 tháng sau, anh D đến nhà K để trả toàn bộ số nợ gốc và lãi còn lại thì K yêu cầu anh D trả số tiền 2.750.000đ. Tổng tiền thu lợi tính trong thời gian này là 360.000đ (tương ứng 30 ngày tiền lãi với lãi suất 183,3% gấp 9,16 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 320.712đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 30x2.390.000x20%/365) = 39.452đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 320.548₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính qua hai lần chốt nợ đối với Lường Văn D là 472.082đ (bốn trăm bảy mươi hai nghìn không trăm tám mươi hai đồng). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 58.082đ (năm mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 441.918đ (bốn trăm bốn mươi mốt nghìn chín trăm mười tám đồng). Anh D đã trả xong các khoản gốc và lãi cho Hà Văn K.
Ngày 18/11/2022, anh Phạm Văn Đ2 đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày và để lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm tin. Kiểu điền thông tin cá nhân của Đ2 vào giấy vay tiền in sẵn không ghi lãi suất sau đó đưa cho anh Đ2 ký rồi đưa tiền mặt cho anh Đ2.
Lần chốt nợ thứ nhất: Khoảng 40 ngày sau anh Đ2 đến nhà K để chốt nợ. Kiểu tính lãi khoản vay anh Đ2 đang nợ là 800.000đ (tương ứng 40 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 712.329đ. Anh Đ2 chưa có tiền trả gốc và lãi nên K sửa giấy vay nợ thành số tiền 4.800.000đ và tiếp tục tính lãi số tiền này với mức 5.000đ/1.000.000đ/1ngày.
Lần chốt nợ thứ hai: Ngày 20/8/2023 Hà Văn K đến nhà anh Đ2 để chốt nợ. Kiểu tính lãi khoản 4.800.000₫ anh Đ2 đang nợ là 5.800.000đ (tương ứng 236 ngày tiền lãi với lãi suất 186,9% gấp 9,34 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 5.179.288đ. Anh Đ2 chưa có tiền trả gốc và lãi nên K viết giấy vay nợ mới với số tiền 10.600.000đ không ghi lãi suất đưa cho anh Đ2 ký xác nhận nợ.
Lần chốt nợ thứ ba: Ngày 04/12/2023 K tiếp tục đến nhà anh Đ2 để đòi nợ và chốt lãi khoản 10.600.000₫ anh Đ2 đang nợ là 5.618.000đ (tương ứng 106 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 5.002.329đ. Anh Đ2 trả được cho K 2.500.000đ tiền lãi (tương ứng 47 ngày) nên còn nợ lại số tiền 13.718.000đ nhưng Kiểu thoả thuận bỏ đi 18.000₫ viết giấy nợ mới chỉ ghi và tính lãi 13.700.000đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 47x10.600.000x20%/365) = 272.986đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 2.227.014₫.
Lần chốt nợ thứ tư: Ngày 03/02/2024 anh Đ2 đến nhà K để chốt nợ, Kiểu chốt lãi khoản 13.700.000₫ anh Đ2 đang nợ là 4.200.000đ (tương ứng 61 ngày tiền lãi với lãi suất 183,4% gấp 9,17 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 3.742.082đ. Anh Đ2 trả được K số tiền 3.000.000đ (tương ứng 43 ngày) và nợ lại số tiền 14.900.000đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 47x13.700.000x20%/365) = 322.795đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 2.677.205₫.
Từ ngày 04/02/2024 đến 11/5/2024 Anh Đ2 chưa trả được khoản tiền nào khác cho Hà Văn K và Hà Thị T1 nên tính lãi nhằm thu của khoản nợ 14.900.000₫ là 7.301.000đ(tương ứng với 98 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính 6.500.890đ.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K và Hà Thị T1 nhằm thu lợi bất chính qua bốn lần chốt nợ đối với Phạm Văn Đ2 là 21.136.918đ (hai mươi mốt triệu một trăm ba mươi sáu nghìn chín trăm mười tám đồng). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 595.781đ (năm trăm chín mươi lăm nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 4.904.219đ (bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn hai trăm mười chín đồng). Anh Phạm Văn Đ2 chưa trả số tiền 4.000.000đ gốc đã vay cho Hà Văn K
Anh Đinh Văn S đã vay của Hà Văn K, Hà Thị T1 03 khoản vay gồm: Khoản thứ nhất khoảng đầu tháng 11/2022, anh S vay của K số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền mặt với lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày nhưng không viết giấy vay nợ. Khoản thứ hai ngày 19/11/2022 anh S vay của Hà Văn K 02 (hai) trâu tương ứng số tiền 63.500.000đ (Sáu mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) với lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, khoản vay này có viết giấy vay nợ nhưng không ghi lãi suất. Khoản vay thứ ba ngày 15/8/2023 anh S vay Kiểu số tiền 15.000.000đ với lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, có viết giấy vay nợ nhưng không ghi lãi suất. Sau khi anh S ký giấy vay nợ thì Hà Thị T1 chuyển khoản số tiền 15.000.000đ cho vợ anh S là chị Lường Thị V – sinh năm 1978.
Lần chốt nợ thứ nhất: ngày 07/01/2023, K cùng T1 đến nhà anh S để chốt nợ. Kiểu và anh S thỏa thuận cộng khoản vay thứ nhất với khoản vay thứ hai thành với số tiền 71.500.000đ (Bảy mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) và bắt đầu tính lãi từ ngày 19/11/2022. Kiểu tính lãi khoản vay anh S đang nợ là 17.500.000đ (tương ứng 50 ngày tiền lãi với lãi suất 178,7% gấp 8,93 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 15.541.096đ. Anh S chưa có tiền trả gốc và lãi nên K nên kiểu viết giấy vay nợ mới vào quyển sổ mang theo và yêu cầu anh S ký nhận nợ số tiền 89.000.000₫ và thỏa thuận tính lãi tiếp số nợ này là 3000đ/1 triệu/1 ngày.
Lần chốt nợ thứ hai: Ngày 07/01/2024, K đến nhà anh S để chốt nợ. Kiểu tính lãi khoản 89.000.000₫ anh S đang nợ là 103.000.000đ (tương ứng 365 ngày tiền lãi với lãi suất 115,7% gấp 5,79 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 85.200.000đ. Anh S chưa có tiền trả gốc và lãi nên K tính lãi với số tiền 192.000.000₫ là 3000đ/1 triệu/ 1 ngày cho đến khi bị bắt.
Từ ngày 08/01/2024 đến 11/5/2024 Anh S chưa trả được khoản tiền nào khác cho Hà Văn K và Hà Thị T1 nên tính lãi nhằm thu của khoản nợ 192.000.000₫ là 72.000.000đ (tương ứng với 125 ngày tiền lãi với lãi suất 109,5% gấp 5,48 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính 58.849.315₫.
Đối với khoản vay thứ ba từ 15/8/2023 đến 11/5/2024 Kiểu chưa chốt nợ khoản vay này với anh S, anh S mới trả lãi 4.500.000đ (có 2.300.000đ chuyển khoản từ tài khoản của chị Lường Thị V cho Hà Thị T1). Do đó lãi nhằm thu của khoản nợ 15.000.000₫ là 20.325.000đ (tương ứng với 271 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính 18.097.603₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K và Hà Thị T1 nhằm thu lợi bất chính đối với 03 khoản vay qua hai lần chốt nợ đối với Đinh Văn S là 177.688.014đ (một trăm bảy mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi tám nghìn không trăm mười bốn đồng). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 493.151đ (bốn trăm chín mươi ba nghìn một trăm năm mươi mốt đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 4.006.849đ (bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn hai trăm mười chín đồng). Anh Đinh Văn S chưa trả số tiền 86.500.000₫ gốc đã vay cho Hà Văn K.
Khoảng tháng 12/2022, anh Bùi Văn H vay Hà Văn K số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày nhưng không viết giấy vay nợ. Đến ngày 13/7/2023 K gặp anh H để chốt nợ và báo số tiền lãi của khoản vay là 5.860.000đ (tương ứng 225 ngày tiền lãi với lãi suất 237,7% gấp 11,88 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 5.366.849đ. Anh H1 chưa có tiền trả nên thoả thuận viết giấy vay tiền với tổng số nợ gốc và lãi thời điểm này là 9.860.000₫ và không tính lãi nữa. Sau đó khoảng 1 tháng thì anh Bùi Văn H trả đủ số tiền 9.860.000₫ cho Hà Văn K. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 255x4.000.000x20%/365 = 493.151₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính và thực tế đã thu lợi bất chính đối với Bùi Văn H là 5.366.849đ (năm triệu ba trăm sáu mươi sáu nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng, tiền lãi được phép đã thu là 493.151đ (bốn trăm chín mươi ba nghìn một trăm năm mươi mốt đồng). Anh H đã trả đủ gốc và lãi khoản vay cho Hà Văn K.
Ngày 15/5/2023, anh Triệu Văn T2 đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng), với thỏa thuận mức lãi suất thỏa thuận là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày. Kiểu hướng dẫn anh T2 viết một giấy vay nợ không ghi lãi suất rồi đưa tiền mặt cho anh T2.
Lần chốt nợ thứ nhất: Ngày 27/11/2023 anh T2 đến nhà K để chốt nợ, lúc này K chốt số tiền lãi của khoản vay là 8.700.000đ (tương ứng 197 ngày tiền lãi với lãi suất 183,2% gấp 9,16 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 7.750.082đ. Anh T2 trả cho K số tiền 1.000.000đ (tương ứng 23 ngày thực trả lãi) nên còn nợ lại cả gốc và lãi là 16.500.000đ và viết giấy vay nợ mới. Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 23x8.800.000x20%/365 = 110.904đ, tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 889.096₫.
Lần chốt nợ thứ hai: Ngày 02/2/2024 anh T2 đến nhà K để chốt nợ, lúc này K chốt số tiền lãi của khoản tiền 16.500.000₫ anh T2 đang nợ là 6.200.000đ (tương ứng 67 ngày tiền lãi với lãi suất 204,7% gấp 10,24 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 5.594.247đ. Anh T2 trả cho K 2.000.000đ (tương ứng 24 ngày thực trả lãi) nên còn nợ lại cả gốc và lãi là 20.700.000đ và viết giấy khất nợ mới với số tiền trên. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 24x16.500.000x20%/365)= 216.986đ, tổng tiền lãi thu lợi bất chính là 1.783.014₫.
Từ ngày 03/2/2024 đến 11/5/2024 anh T2 chưa trả được khoản tiền nào khác cho Hà Văn K và Hà Thị T1 nên tính lãi nhằm thu của khoản nợ 20.700.000₫ là 10.246.500đ (tương ứng với 99 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính 9.123.596₫
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính qua hai lần chốt nợ và tiếp tục tính đến ngày bị bắt đối với Triệu Văn T2 là 22.467.925đ (Hai mươi hai triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn chín trăm hai mươi lăm đồng). Thực tế tổng tiền lãi được phép đã thu là 327.890đ (ba trăm hai mươi bảy nghìn tám trăm chín mươi đồng), tổng tiền lãi đã thu lợi bất chính là 2.672.110đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn một trăm mười đồng). Anh Triệu Văn T2 chưa trả số tiền 8.800.000₫ gốc đã vay cho Hà Văn K.
Ngày 25/5/2023, anh Quách Công Đ3 dùng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 541998 của bố anh Đ3 là Quách Văn T5 để thế chấp vay Hà Văn K số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày nhưng viết giấy vay nợ không ghi lãi suất. Quá trình vay nợ tính đến ngày 15/9/2023 anh Đ3 đã trả lãi số tiền là 20.000.000đ (tương ứng 100 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính số tiền 17.501.370đ. Anh Đ3 đã trả đủ số tiền gốc 40.000.000đ cho Hà Văn K. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 114x40.000.000x20%/365 = 2.498.630đ.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính và thực tế đã thu lợi bất chính đối với Quách Công Đ3 là 17.808.219đ (mười bảy triệu tám trăm linh tám nghìn hai trăm mười chín đồng), tiền lãi được phép đã thu là 2.191.781đ (hai triệu một trăm chín mươi mốt nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng). Anh Đ3 đã trả đủ gốc và lãi khoản vay cho Hà Văn K.
Ngày 29/7/2023, anh Hà Văn T3 đến nhà Hà Văn K hỏi vay số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày và để lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 625646 mang tên Hà Văn T6 để làm tin. Kiểu hướng dẫn anh T3 viết vào một giấy vay nợ rồi đưa tiền mặt cho anh T3. Sau đó T3 đã nhiều lần chuyển khoản trả nợ gốc và lãi cho Hà Văn K
Lần thứ nhất: Ngày 10/8/2023 T3 chuyển cho K số tiền 6.000.000đ trong đó có 5.000.000đ tiền gốc và 1.000.000đ trả lãi (tương tứng 13 ngày tiền lãi với lãi suất 140,4% gấp 7,02 lần quy định), nhằm thu lợi bất chính và thực tế thu lợi bất chính số tiền 857.534đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 13x20.000.000x20%/365 = 142.466₫.
Lần thứ hai: Trong các ngày 01/9 và 21/9/2023 T3 chuyển cho K số tiền 3.000.000đ (tương tứng 42 ngày tiền lãi với lãi suất 173,8% gấp 8.69 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính và thực tế thu lợi bất chính số tiền 2.654.795đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 42x15.000.000x20%/365 = 345.205đ. Trong ngày 21/9/2023 T3 đã chuyển khoản trả thêm cho K 5.000.000đ tiền gốc.
Lần thứ ba: Ngày 12/12/2023 T3 chuyển cho K số tiền 12.000.000đ trong đó có 10.000.000đ tiền gốc và 2.000.000đ trả lãi (tương tứng 82 ngày tiền lãi với lãi suất 89% gấp 4,45 lần quy định). Lần trả gốc và lãi này có mức lãi suất không vượt 5 lần mức lãi suất cao nhất theo Điều 468 Bộ luật Dân sự do đó khoản trả lãi này không tính vào tổng tiền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hà Văn K và Hà Thị Thuý
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K và Hà Thị T1 nhằm thu lợi bất chính qua hai lần nhận tiền trả lãi của Hà Văn T3 là 3.512.329đ (ba triệu năm trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng). Anh Hà Văn T3 đã trả toàn bộ các khoản gốc và lãi cho Hà Văn K và Hà Thị T1.
Khoảng tháng 11/2023, ông Lường Văn P vay Hà Văn K số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, có viết giấy vay nợ và để lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lường Văn P để làm tin. Sau đó khoảng 1 tháng ông P trả gốc và trả lãi 3.000.000đ (tương ứng 30 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi và thực tế thu lợi bất chính số tiền 2.671.233đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 30x20.000.000x20%/365 = 328.767₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính và thực tế đã thu lợi bất chính đối với Lường Văn P là 2.671.233đ (Hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng), tiền lãi được phép đã thu là 328.767đ (ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng). Ông P đã trả đủ gốc và lãi khoản vay cho Hà Văn K, hủy giấy vay nợ và lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 26/12/2023, anh Q1 vay Hà Văn K số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, có viết giấy vay nợ và để lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 613223 mang tên Lường Văn S1 của ông Lường Văn S2 (là bố đẻ Q1) để làm tin. Tính đến ngày 11/5/2024 Hà Văn K chưa chốt nợ với anh Q1 lần nào nên tính lãi nhằm thu của khoản nợ là 2.760.000₫ (tương ứng với 138 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định). Nhưng trong quá trình vay anh Q1 đã trả lãi 3.000.000₫ nên số tiền lãi được phép thu là 138x4.000.000x20%/365 = 302.466đ, số tiền thực tế đã thu lợi bất chính là 2.697.534₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi và thực tế đã thu lợi bất chính đối với Lường Văn Q1 là 2.671.233đ (Hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm ba mươi ba đồng), tiền lãi được phép đã thu là 328.767đ (ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng). Anh Q1 chưa trả số tiền gốc khoản vay cho Hà Văn K.
Ngày 01/02/2024, Chị Lường Thị L1 vay Hà Văn K số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), với thỏa thuận mức lãi suất là 5.000đ/1.000.000đ/01 ngày, có viết giấy vay nợ. Sau đó khoảng 3 ngày chị L1 trả gốc và trả lãi 75.000đ (tương ứng 3 ngày tiền lãi với lãi suất 182,5% gấp 9,13 lần quy định) nhằm thu lợi bất chính và thực tế thu lợi bất chính số tiền 66.781đ. Tổng tiền lãi được phép đã thu là 3x5.000.000x20%/365 = 8.219₫.
Như vậy tổng số lãi Hà Văn K nhằm thu lợi bất chính và thực tế đã thu lợi bất chính đối với Lường Thị L1 là 66.781đ (sáu mươi sáu nghìn bảy trăm tám mươi mốt đồng), tiền lãi được phép đã thu là 8.219đ (tám nghìn hai trăm mười chín đồng). Chị L1 đã trả đủ gốc và lãi khoản vay cho Hà Văn K.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ, tạm giữ:
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện Vivo 1938 số Imei 1:864588046225834; số Imei 2: 864588064225826, máy màu xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng là chiếc điện thoại Hà Văn K sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng.
- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện OPPO A16K, số Imei 1: 868289059795096; số Imei 2: 868289059795088, máy màu đen, tình trạng đã qua sử dụng là chiếc điện thoại Hà Thị T1 sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng.
- Số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hà Văn K quá trình điều tra xác định đây là tiền buôn bán, tích luỹ mà có không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên các bị can không yêu cầu hoàn trả mà tự nguyện để lại khắc phục hậu quả trong vụ án cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- 23 (hai mươi ba) giấy vay tiền; 05 (năm) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Bàn Văn C1, Phạm Văn Đ2, Lường Văn S1, Quách Văn T5, Hà Văn T6; 04 (bốn) quyển sổ ghi chép đều do Hà Thị T1 giao nộp ngày 11/5/2024.
- Số tiền 3.749.849 đồng (Ba triệu bảy trăm bốn mươi chín nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng) trong tài khoản ngân hàng M số chủ tài khoản là Hà Thị T1. Số tiền này xác định của chị Hà Thị Ái C2 – SN 1990, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ là em gái ruột của bị can Hà Thị T1, C2 gửi qua số tài khoản của T1 cho bố mẹ đẻ của C2 và T1.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản, giấy tờ gồm:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, mang BKS: 28D1 – 093.88 cùng với giấy chứng nhận đăng ký xe số 005662 mang tên Bàn Văn L xác định là tài sản hợp pháp của Bàn Văn L để lại cho Hà Văn K làm tin để vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
- 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sốR 625285 mang tên Bàn Văn C cho ông Bàn Văn C1 – sinh năm 1966, trú tại xóm B, xã T, huyện Đ.
- Số tiền 3.749.849 cho chị Hà Thị Ái C2 – SN 1990, trú tại xóm P, xã T, huyện Đ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án gồm Hà Văn A, Bàn Văn L, Quách Công K1, Phạm Văn Đ2, Lường Văn D, Đinh Văn S, Bùi Văn H, Triệu Văn T2, Quách Công Đ3, Hà Văn T3, Lường Văn P và Lường Văn Q1 yêu cầu các bị can phải trả lại số tiền lãi thu lợi bất chính.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS-ĐB ngày 09/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc đã truy tố các bị cáo bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố phát biểu luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và đề nghị:
- Hình phạt chính: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 201; Điều 17; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1, Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Hà Văn K từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; Hà Thị T1 từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
- Hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 30 đến 40 triệu đồng.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện Vivo 1938 số Imei 1:864588046225834; số Imei 2: 864588064225826, máy màu xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng.
- + Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện OPPO A16K, số Imei 1: 868289059795096; số Imei 2: 868289059795088, máy màu đen, tình trạng đã qua sử dụng.
- + Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade màu đỏ đen, mang BKS: 28D1-093.88 cùng với giấy chứng nhận đăng ký xe số 05662 mang tên Bàn Văn L xác định là tài sản hợp pháp của Bàn Văn L; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 625285 mang tên Bàn Văn C cho ông Bàn Văn C1 là đúng quy định của pháp luật.
- Tuyên trả cho chủ sở hữu hợp pháp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Văn Đ2, Lường Văn S1, Quách Văn T5, Hà Văn T6. Riêng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Văn Đ2 giao cho Chi cục Thi hành án huyện Đà Bắc tạm giữ để đảm bảo thi hành án khoản thu tiền nợ gốc chưa trả cho các bị cáo vào Ngân sách nhà nước.
- c, Về biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:
- Áp dụng các Điều 46, 47, 48 BLHS đề nghị Tuyên:
- - Buộc Hà Văn K và Hà Thị T1 phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trả nợ gốc 93.250.000đ và số tiền tương ứng với lãi suất 20% mà các bị cáo đã thu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là 13.321.000đ, tổng số tiền phải nộp 106.571.000đ (một trăm linh sáu triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
- - Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền nợ gốc đã vay của các bị cáo đến nay chưa trả được là 162.800.000₫ (một trăm sáu mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) gồm:
- + Anh Hà Văn A số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng)
- + Anh Bàn Văn L số tiền 25.500.000đ (hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng)
- + Anh Quách Công Q số tiền 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng)
- + Anh Quách Công K1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng)
- + Anh Phạm Văn Đ2 số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng)
- + Anh Đinh Văn S và chị Lường Thị V số tiền 86.500.000đ (tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng)
- + Anh Triệu Văn T2 số tiền 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng).
- + Anh Lương Văn Q3 số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng)
- - Buộc Hà Văn K và Hà Thị T1 phải trả số tiền thu lợi bất chính cho những người có quyền lợi liên quan số tiền 96.496.000đ (chín mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) gồm:
- + Trả cho anh Hà Văn A số tiền 14.992.000đ (mười bốn triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng)
- + Trả cho anh Bàn Văn L số tiền 46.302.000đ (bốn mươi sáu triệu ba trăm linh hai nghìn đồng)
- + Trả cho anh Quách Công K1 số tiền 2.671.000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng)
- + Trả cho anh Phạm Văn Đ2 số tiền 4.904.000đ (bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn đồng)
- + Trả cho anh Lường Văn D số tiền 442.000đ (bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng)
- + Trả cho anh Đinh Văn S số tiền 4.007.000đ (bốn triệu không trăm linh bảy nghìn đồng)
- + Trả cho anh Triệu Văn T2 số tiền 2.672. 000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng)
- + Trả cho anh Quách Công Đ3 số tiền 17.808.000đ (mười bảy triệu tám trăm linh tám nghìn đồng)
- + Trả cho anh Lường Văn Q1 số tiền 2.698.000đ (hai triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng)
- - Ghi nhận việc các bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cho 04 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Bùi Văn H, Hà Văn T3, Lường Văn P và Lường Thị L1 với tổng số tiền 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 thừa nhận toàn bộ hành vi Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự như cáo trạng truy tố. Các bị cáo đều nhất trí với nội dung của bản Cáo trạng, bản luận tội của VKSND huyện Đà Bắc, các bị cáo không có tranh luận gì. Lời sau cùng các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa chỉ có 6/14 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt còn lại 8/14 người vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt). Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ
[3] Về tội danh và điều luật áp dụng
Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 là những người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Từ năm 2020 đến năm 2024, lợi dụng nhu cầu cần vay tiền để chi tiêu cá nhân của nhiều người, K và T1 đã cho 14 người vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với tổng số tiền 256.050.000đ (hai trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng), mức lãi suất thoả thuận miệng từ 3.000đ đến 5.000đ/01 triệu/01 ngày tương đương với mức lãi suất thực tính từ 105,2%/năm đến 237,7%/năm vượt từ 5,26 đến 11,88 lần lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 20%/năm của khoản tiền vay. Đối với các khoản vay đã đến hạn mà người vay chưa trả được các bị can chốt nợ lãi rồi đều thỏa thuận với con nợ viết lại giấy vay nợ mới theo số tiền đã chốt và tiếp tục tính lãi với tổng cả số tiền gốc cộng lãi cũ mà người vay chưa trả được khiến người vay nợ phải trả khoản lãi rất cao qua nhiều lần chốt nợ.
Tổng số tiền mà Hà Văn K và Hà Thị T1 nhằm thu lợi theo thoả thuận, chốt nợ với những người vay từ khi vay tiền đến ngày 11/5/2024 (ngày bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phát hiện hành vi cho vay lãi nặng) là 442.955.500đ (bốn trăm bốn mươi hai triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng). Số tiền lãi thu lợi bất chính nhằm thu để truy cứu trách nhiệm hình sự là 379.990.623đ (ba trăm bảy mươi chín triệu chín trăm chín mươi nghìn sáu trăm hai mươi ba đồng). Số tiền thu lợi bất chính thực tế các bị can đã thu được sau là 108.114.123đ (một trăm linh tám triệu một trăm mười bốn nghìn một trăm hai mươi ba đồng).
Như vậy, hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của Hà Văn K và Hà Thị T1 nhằm thu lợi bất chính số tiền 379.990.623đ (ba trăm bảy mươi chín triệu chín trăm chín mươi nghìn sáu trăm hai mươi ba đồng) đã vi phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm quyền lợi của cá nhân, gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng số 14/CT-VKS-ĐB ngày 09/8/2024 truy tố các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS
- * Về nhân thân: Các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 đều có nhân thân tốt. Chưa có tiền án, tiền sự.
- * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Trong quá trình chuẩn bị xét xử các bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho 04 người có quyền và nghĩa vụ liên quan là Bùi Văn H, Hà Văn T3, Lường Văn P và Lường Thị L1 với tổng số tiền 14.755.000đ (mười bốn triệu bảy trăm năm mươi lăm nghìn đồng), trong đó có 11.618.000đ là tiền thu lợi bất chính của 04 người nêu trên. Do đó các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000₫ (mười triệu đồng) trong giai đoạn điều tra để trả lại khoản thu lợi bất chính cho những người có liên quan trong hành vi cho vay lãi nặng; bị cáo Hà Thị T1 tự nguyện đầu thú và giao nộp các giấy tờ, tài liệu, sổ sách liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó có căn cứ xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 BLHS cho các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong các lần cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vay tiền các bị can ba lần cho vay nhằm thu lợi bất chính với số tiền trên 30.000.000 đồng, do vậy bị can Hà Văn K và Hà Thị T1 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo. HĐXX nhận thấy, hành vi của các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 tuy ít nghiêm trọng nhưng đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm quyền lợi của cá nhân, gây thiệt hại về kinh tế cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, gây mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, cả hai người cùng là người thực hành, trong đó Hà Văn K là người nảy sinh ý định thực hiện việc cho vay lãi nặng đầu tiên, trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng thì chính K là người trực tiếp đứng ra thoả thuận các khoản vay và lãi suất khác nhau, hướng dẫn người vay viết giấy vay nợ không ghi mức lãi suất nên bị cáo giữ vai trò cao hơn so với bị cáo Hà Thị T1. Bị cáo Hà Thị T1 là vợ của bị cáo K, biết rõ hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm quy định pháp luật nhưng vẫn tích cực tham gia quản lý tiền, giấy tờ, sổ sách liên quan đến việc cho vay lãi nặng, nên bị cáo T1 là người thực hành tích cực. Do đó, cần xử lý các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX xét thấy không nhất thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục đối với các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự phạt bổ sung mỗi bị cáo 30.000.000đ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Đ, tỉnh Hòa Bình về áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
Căn cứ tài liệu điều tra và kết quả thẩm vấn công khai tại phiên tòa xác định:
- - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện Vivo 1938 máy màu xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng là chiếc điện thoại của Hà Văn K; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện OPPO A16K, máy màu đen, tình trạng đã qua sử dụng là chiếc điện thoại của Hà Thị T1 đều là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng. Do đó cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- - Số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hà Văn K quá trình điều tra xác định đây là tiền buôn bán, tích luỹ mà có không liên quan đến hành vi phạm tội, tuy nhiên các bị cáo không yêu cầu hoàn trả mà tự nguyện để lại khắc phục hậu quả trong vụ án cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Ghi nhận số tiền các bị cáo khắc phục hậu quả trong vụ án là 10.000.000 đồng.
- - Đối 23 (hai mươi ba) giấy vay tiền, 04 (bốn) quyển sổ ghi chép do Hà Thị T1 giao nộp ngày 11/5/2024, đây là tài liệu, chứng cứ quan trọng có tính chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.
- - Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp các tài sản, giấy tờ liên quan trong giai đoạn điều tra là đúng theo quy định của pháp luật.
- - Các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Văn Đ2, Lường Văn S3, anh Quách Văn T5 và Triệu Văn T2 là giấy tờ có giá trị của những người có quyền và nghĩa vụ liên quan cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Tuy nhiên đối với Giấy chứng nhận mang tên Phạm Văn Đ2 sẽ tạm giữ tại cơ quan thi hành án dân sự để đảm bảo các nghĩa vụ thi hành án khác của anh Phạm Văn Đ2 trong vụ án.
[6] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 46 Bộ luật hình sự:
- - Đối với số tiền 256.050.000đ (hai trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) mà Hà Văn K và Hà Thị T1 đã dùng thực hiện hành vi phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất (20%) theo quy định của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo đã thu được của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 13.321.000đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng) cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước cụ thể như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
- - Đối với số tiền thu lợi bất chính 108.114.123đ (một trăm linh tám triệu một trăm mười bốn nghìn ba một trăm hai mươi ba đồng) của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cần buộc các bị cáo trả lại cho những người này. Các bị cáo đã tự nguyện bồi thường 14.755.000đ cho Bùi Văn H, Hà Văn T3, Lường Văn P và Lường Thị L1 trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (trong đó có 11.618.000₫ là số tiền thu lợi bất chính). Do đó buộc các bị cáo trả lại số tiền 96.496.0000đ (chín mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) cho 09 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn lại cụ thể như mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[7] Về các vấn đề khác:
Đối với Đinh Văn K2 – sinh năm 1981 trú tại tiểu khu B, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình là anh rể của Hà Văn K. Trong một lần đi chơi cùng Hà Văn K thì gặp Quách Công K1 là người đang nợ tiền Kiểu. Do Quách Công K1 là bạn học cũ nên K ngại không viết giấy vay trực tiếp mà nhờ Đinh Văn K2 viết giấy nợ và đứng tên người cho vay tiền. Sau đó Hà Văn K còn nhờ Đinh Văn K2 gọi điện thoại đòi nợ Quách Công K1. Quá trình điều tra xác định Đinh Văn K2 không biết cụ thể khoản vay, không được góp vốn, hưởng lợi gì từ việc đứng tên, nhờ gọi điện đòi nợ. Do đó không có căn cứ xác định Đinh Văn K2 đồng phạm với Hà Văn K, nên Đinh Văn K2 không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án.
Đối với Hà Thị K3 – sinh năm 1979, trú tại tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện Đ tỉnh Hòa Bình có mối quan hệ là chị họ của K. Quá trình điều tra làm rõ chị Hà Thị K3 có đăng ký kinh doanh dịch vụ ký gửi cầm đồ số 25B80001314 (HKD) cấp ngày 16/8/2013. Nên trong quá trình kinh doanh có các mẫu giấy vay nợ in sẵn. Biết việc chị K3 có các mẫu giấy vay nợ nên Kiểu xin các mẫu giấy vay nợ này về để làm mẫu thực hiện việc cho vay tiền và đã cho anh Quách Công K1 điền vào giấy vay tiền ngày 30/3/2023 có tên người cho vay là Hà Thị Kim . Chị K3 không biết mục đích xin mẫu giấy vay nợ của Kiểu, không biết xin về để sử dụng vào hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, không biết cụ thể khoản vay, không được góp vốn, hưởng lợi gì nên không có căn cứ xác định Hà Thị Kim đồng P1 trong vụ án này, nên Hà Thị K3 không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chị án phí hính sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 201; Điều 17; Điều 35; Điều 46; Điều 47; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
2. Về hình phạt chính:
- - Xử phạt: Bị cáo Hà Văn K 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử tách là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Xử phạt bị cáo Hà Thị T1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hà Văn K, Hà Thị T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.
3. Về hình phạt bổ sung:
Phạt bổ sung bị cáo Hà Văn K 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); phạt bổ sung bị cáo Hà Thị Thúy 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
4. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện Vivo 1938 số Imei 1:864588046225834; số Imei 2: 864588064225826, máy màu xanh đen, tình trạng đã qua sử dụng là chiếc điện thoại Hà Văn K sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiện OPPO A16K, số Imei 1: 868289059795096; số Imei 2: 868289059795088, máy màu đen, tình trạng đã qua sử dụng là chiếc điện thoại Hà Thị T1 sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi cho vay lãi nặng.
- - Tịch thu, lưu hồ sơ vụ án 23 giấy vay nợ; 04 quyển sổ ghi chép là vật chứng vụ án do bị cáo Hà Thị T1 giao nộp hiện lưu tại hồ sơ vụ án.
- - Tiếp tục lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đà Bắc số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) thu giữ khi khám xét chỗ ở của Hà Văn K để khắc phục hậu quả trong vụ án, trả lại cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã bị các bị cáo thu lợi bất chính khi phạm tội.
Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc ngày 13/08/2024.
- - Trả cho chủ sở hữu hợp pháp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Văn Đ2, Lường Văn S1, Quách Văn T5, Hà Văn T6. Riêng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phạm Văn Đ2 giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Đà Bắc tạm giữ để bảo đảm thi hành án khoản truy thu tiền nợ gốc chưa trả cho các bị cáo vào Ngân sách Nhà nước.
- - Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ trả lại xe môtô nhãn hiệu Honda Biade, màu đỏ đen mang BKS: 28D1-09388 cùng với giấy chứng nhận đăng ký xe số 005662 cho anh Bàn Văn L; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 625285 mang tên Bàn Văn C cho ông Bàn Văn C là đúng quy định của pháp luật.
5. Về các biện pháp tư pháp và trách nhiệm dân sự:
- *Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 256.050.000đ (hai trăm năm mươi sáu triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo Hà Văn K4 và Hà Thị T1 đã dùng để thực hiện hành vi phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất (20%) theo quy định của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo đã thu được của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 13.321.000₫ (mười ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng), cụ thể như sau:
- - Buộc bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 phải nộp sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 93.250.000đ (chín mươi ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền anh Lường Văn D, anh Bùi Văn H, anh Quách Công Đ3, anh Hà Văn T3, ông Lường Văn P và Chị Lường Thị L1 đã trả số tiền nợ gốc cho bị cáo; Buộc bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 phải nộp sung vào ngân sách Nhà nước số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất (20%) theo quy định của Bộ luật Dân sự mà các bị cáo đã thu được của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 13.321.000đ (mười ba triệu ba trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Tổng số tiền các bị cáo phải nộp sung vào ngân sách nhà nước là 106.571.000đ (một trăm linh sáu triệu năm trăm bảy mươi mốt nghìn đồng).
- - Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền nợ gốc đã vay của các bị cáo nhưng đến nay chưa trả là 162.800.000₫ (một trăm sáu mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) cụ thể: anh Hà Văn A số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng); anh Bàn Văn L số tiền 25.500.000đ (hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng); anh Quách Công Q số tiền 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng); anh Quách Công K1 số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng); anh Phạm Văn Đ2 số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng); anh Đinh Văn S và chị Lường Thị V số tiền 86.500.000đ (tám mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng); anh Triệu Văn T2 số tiền 8.800.000đ (tám triệu tám trăm nghìn đồng); anh Lường Văn Q1 số tiền 4.000.000₫ (bốn triệu đồng).
- * Buộc các bị cáo Hà Văn K và Hà Thị T1 trả lại 96.496.000đ (chín mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sáu nghìn đồng) cho 09 người vay số tiền lãi các bị cáo thu lợi bất chính thực tế đã thu được của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:
- - trả cho anh Hà Văn A số tiền 14.992.000đ (Mười bốn triệu chín trăm chín mươi hai nghìn đồng);
- - trả cho anh Bàn Văn L số tiền 46.302.000đ (bốn mươi sáu triệu ba trăm linh hai nghìn đồng);
- - trả cho anh Quách Công K1 số tiền 2.671.000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt nghìn đồng);
- - trả cho anh Phạm Văn Đ2 số tiền 4.904.000đ (bốn triệu chín trăm linh bốn nghìn đồng);
- - trả cho anh Lường Văn D số tiền 442.000đ (bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng);
- - trả cho anh Đinh Văn S số tiền 4.007.000đ (bốn triệu không trăm linh bảy nghìn đồng);
- - trả cho anh Triệu Văn T2 số tiền 2.672.000đ (hai triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng);
- - trả cho anh Quách Công Đ3 số tiền 17.808.000đ (mười bảy triệu tám trăm linh tám nghìn đồng);
- - trả cho anh Lường Văn Q1 số tiền 2.698.000đ (hai triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Các bị cáo đã tự nguyện nộp 10.000.000đ (mười triệu đồng) trong giai đoạn điều tra, còn phải nộp 86.496.000đ (tám mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi sau nghìn đồng) để trả cho những người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Ghi nhận việc các bị cáo tự nguyện bồi thường cho Bùi Văn H, Hà Văn T3, Lường Văn P và Lường Thị L1 trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là đúng theo quy định của pháp luật.
6. Án phí: Buộc bị cáo Hà văn K và Hà Thị T1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
7. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Đà Bắc; - Công an huyện Đà Bắc; - Những người tham gia tố tụng; -Thi hành án huyện Đà Bắc; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT; |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lự |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn K và Hà Thị T1
