1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HS-ST
Ngày 24-4-2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Lân.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Hữu Lộc.
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
- - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Nguyên Quy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 07/2024/HS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử sơ thẩm số 04/TB-TA ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hồ Nam H, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 27/02/1991 tại huyện P, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: tổ C, khu V, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên kỹ thuật; con ông: Hồ Xuân N (chết) và bà: Huỳnh Thị Đ; vợ: Trần Thị Ngọc H1 (sinh năm 1992); con: 01 người sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ 12/01/2024 cho đến nay tại phường Q, thành phố Q (Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
* Người bị hại: Bà Đặng Thị Thân T – Sinh năm: 1980; nơi cư trú: Khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Ngọc H2 – Sinh năm: 1994; nơi cư trú: Tổ D, khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có mặt).
- Chị Nguyễn Hồng L – Sinh năm: 2002; nơi cư trú: Khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).
- Bà Huỳnh Thị Đ – Sinh năm: 1963; nơi cư trú: Tổ C, khu V, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 45 phút ngày 02/10/2023, Hồ Nam H đang ở thuê trọ tại khu A, thị trấn N, huyện P đi bộ từ nhà trọ ra ngoài để ăn sáng. Khi đi ngang qua nhà chị Đặng Thị Thân T (1980), ở khu A, thị trấn N, P thì H thấy chị T đang khoá cổng và chuẩn bị cùng chồng đi công việc. Lúc này H thấy chị T treo chùm chìa khoá trên cửa cổng, nhà không có ai trông coi và có 01 xe mô tô hiệu SH Mode biển số 77E1-572.80 (chiếc xe này chị T mua lại của người cháu tên Nguyễn Hồng L và hiện chưa sang tên lại) đang dựng trong hiên nhà. Lúc này, H đã nảy sinh ý định trộm xe mô tô trên để bán lấy tiền trả nợ và tiêu xài nên đến lấy chùm chìa khoá (trong chùm chìa khoá có khoá nhà và khoá xe mô tô) mở cổng đi vào trong sân lén lút dắt xe mô tô 77E1-572.80 ra ngoài rồi cắm chìa khoá khởi động điều khiển xe đến thành phố Q. Sau đó, H liên lạc với Nguyễn Ngọc H2 (1994), ở tổ D, khu V, phường N, thành phố Q để bán chiếc xe trên cho H2. Quá trình mua bán hai bên thống nhất đồng ý mua xe với giá 45.000.000 đồng, H2 trừ đi số tiền 29.300.000 đồng H nợ trước đó rồi đưa cho H số tiền 15.700.000 đồng. Sau khi nhận số tiền, H đã sử dụng cá nhân hết. Quá trình mua bán H cung cấp cho H2 xe mô tô và giấy tờ xe, đồng thời viết giấy mua bán.
Hậu quả của vụ án: Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện P: 01 xe mô tô hiệu Honda SH Mode biển số 77E1-572.80 tại thời điểm bị chiếm đoạt vào ngày 02/10/2023 là 45.000.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra tạm giữ 01 xe mô tô biển số 77E1-572.80, hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đ1-Bạc, có số khung: RLHJF51KY100432, số máy: JF87E0003210 do Nguyễn Hồng L (2002), ở Khu A, thị trấn N, P đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe và đã xử lý trả cho người bị hại để quản lý, sử dụng là chị Đặng Thị Thân T.
Về dân sự: Chị Đặng Thị Thân T sau khi nhận lại tài sản không có yêu cầu gì, tại phiên toà cũng không có yêu cầu gì về phần dân sự. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc H2 đã yêu cầu H trả lại số tiền đã mua xe là 45.000.000 đồng, trong đó quá trình điều tra H đã tác động gia đình là bà Huỳnh Thị Đ, là mẹ ruột của H bồi thường 20.000.000 đồng, hiện còn lại 25.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số:13/CT-VKSPC, ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát đã truy tố bị cáo Hồ Nam H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hồ Nam H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Nam H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Hồ Nam H với mức án từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: chấp nhận đề nghị bồi thường cho anh Nguyễn Ngọc H2 số tiền 25.000.000 đồng.
Trong phần tự bào chữa, bị cáo Hồ Nam H đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Tại phần tranh luận, bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến tranh luận. Đồng thời, bị cáo cũng thừa nhận thống nhất với anh H2 còn nợ số tiền 25.000.000 đồng và cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Lời nói sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đang nuôi con nhỏ để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Hồ Nam H đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà chị Đặng Thị Thân T chiếm đoạt 01 xe mô tô biển số 77E1-572.80 hiệu Honda SH Mode, màu sơn Đ1-Bạc, có số khung: RLHJF51KY100432, số máy: JF87E0003210, vào khoảng 07 giờ 45 phút ngày 02/10/2023 tại khu A, thị trấn N, Phù Cát. Tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị tương đối lớn theo định giá là 45.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Hồ Nam H là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.
[3]. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi, lỗi của bị cáo đã thực hiện, hậu quả thiệt hại đã xảy ra, Hội đồng xét xử xác định: Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Hồ Nam H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Hồ Nam H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xét thấy trong vụ án xảy ra với lỗi cố ý, giá trị tài sản tương đối lớn do đó tội phạm và hình phạt Hồ Nam H phải chịu được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, do đó cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại một phần cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tại phiên toà, người bị hại cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nghĩ nên áp dụng để giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo tích cực cải tạo, sớm trở thành công dân tốt cho xã hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
[5.1] Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc H2 sau khi được H bán xe, do có giấy tờ và H đã nói dối H2 người đứng tên trên giấy đăng ký xe là vợ của mình, nên H2 tin tưởng, đồng ý mua. Xét thấy việc mua bán diễn ra không có sự việc hứa hẹn trước, đồng thời Nguyễn Ngọc H2 không biết đây là tài sản do H phạm tội, do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không truy cứu trách nhiệm hình sự với H2 là có cơ sở. Tại phiên toà, Nguyễn Ngọc H2 đã yêu cầu Hồ Nam H trả lại số tiền 25.000.000 đồng là số tiền đã mua bán xe, hai bên đã thống nhất đồng ý việc trả nợ. Do vậy, xét yêu cầu của Nguyễn Ngọc H2 là có cơ sở và đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa các bên, áp dụng các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bị cáo Hồ Nam H phải trả lại số tiền 25.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc H2 là thoả đáng.
[5.2] Xử lý vật chứng: Không.
[6]. Về án phí: Theo quy định tại các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Hồ Nam H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 584; Điều 585; Điều 586 của Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 135 và 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Nam H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Nam H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật dân sự năm 2015, tuyên: Buộc bị cáo Hồ Nam H bồi thường số tiền 25.000.000 đồng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Ngọc H2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền. Hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Bị cáo Hồ Nam H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000₫ (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HỒ NAM H- TRỘM CẮP TÀI SẢN
