|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HS-ST
Ngày: 23/4/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đoàn Minh Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Nguyễn Văn Bình
- Ông Phạm Văn Kha
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Phượng, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/HSST ngày 21/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/HSST-QĐ, ngày 16/4/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn H (Không có tên gọi khác); sinh ngày 07/8/1976 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên;
Nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Bùi Thị H1 và 02 con: không có; tiền án: năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 25/7/2022 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không có;
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Bùi Thị H1 (Không có tên gọi khác); sinh ngày 10/12/1980 tại huyện T, thành phố Hải Phòng;
Nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn P (đã chết) và bà Hoàng Thị M; có chồng là Nguyễn Văn H và 02 con; tiền án, tiền sự: không có;
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Mạc Văn M1 (Không có tên gọi khác); sinh ngày 16/9/1988 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn M2 và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Đinh Thị N và 01 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”, năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Đặng Văn H2 (Không có tên gọi khác); sinh ngày 28/02/1993 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N1 và bà Nghiêm Thị L1; có vợ là Nguyễn Bích H3 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 21/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Giang Văn Đ (Không có tên gọi khác); sinh ngày 01/01/1985, tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: thôn F, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Giang Thị B (không xác định được bố đẻ của bị cáo); vợ, con: không có; tiền án: không có; tiền sự: năm 2023 bị Tòa án nhân dân huyện Hải Hà ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhân thân: năm 2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt ngày 24/01/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Phạm Hoàng A (Không có tên gọi khác); sinh ngày 19/12/1996, tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: thôn Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tiến D và bà Hoàng Thị L2; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Đỗ Văn B1 (Không có tên gọi khác); sinh ngày 15/11/2000 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: thôn Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn B2 và bà Nguyễn Thị X; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
8. Họ và tên: Phạm Văn K (Không có tên gọi khác); sinh ngày 24/6/1999 tại huyện H, tỉnh Quảng Ninh;
Nơi thường trú: thôn Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn H4 và bà Hoàng Thị L3; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/9/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn V, sinh ngày 22/7/2006; nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Văn V là chị Nguyễn Thị N2 (chị gái của anh Nguyễn Văn V), sinh năm 2001, nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Anh Trần Bá Đ1, sinh năm 1981; nơi thường trú: thôn D, xã Q, huyện H. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Hà Minh S, sinh năm 1991; nơi thường trú: thôn A, xã Q, huyện H. Vắng mặt tại phiên tòa.
- - Anh Bế Văn T1, sinh năm 1992; nơi thường trú: thôn G, xã Q, huyện H. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
anh Phạm Văn L4, sinh năm 1993; nơi thường trú: thôn Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Khoảng 08 giờ 50 phút, ngày 18/9/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế ma túy phối hợp cùng Công an xã Q tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Phạm Văn K ở thôn Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Tại thời điểm kiểm tra, trong nhà có 03 người gồm Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A đang nằm trên giường có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy; tại tủ gỗ trong phòng ngủ phát hiện 01 chai nhựa trắng, dung tích 300ml, có nắp chai màu đỏ, được đục 02 lỗ, 01 lỗ được cắm ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ được cắm ống hút nhựa có gắn nõ thủy tinh, trong nõ có dính chất màu trắng dạng vết (ký hiệu M1); 03 túi nilon, một đầu khóa kẹp màu xanh, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng dạng vết ( ký hiệu M2, M3, M4). Các đối tượng Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A đều khai nhận vừa sử dụng ma túy, đang nằm ngủ thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện.
Tại Bản kết luận số 1388 ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A gửi giám định.
Tại Bản kết luận số 1389 ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu từ M1, M2, M3, M4 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết, không xác định được khối lượng.
Quá trình điều tra, các bị cáo Phạm Hoàng A, Đỗ Văn B1 và Phạm Văn K khai nhận:
Khoảng 14 giờ chiều ngày 17/9/2023, do muốn cùng nhau sử dụng ma túy đá nên Hoàng A mượn xe của K, rồi cùng B1 đi cầm cố 01 điện thoại của Hoàng A được 1.000.000 đồng. Sau đó Hoàng A dùng điện thoại của B1 gọi điện cho Mạc Văn M1 hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá và M1 hẹn đến khu vực gần lối vào cao tốc thuộc thôn E, xã Q, huyện H. Tại chỗ hẹn, M1 điều khiển xe máy đến bán cho Hoàng A và B1 01 túi nilon bên trong chứa ma túy đá. Sau khi có được ma túy đá, Hoàng A và B1 quay lại nhà K rồi cả ba cùng nhau sử dụng ma túy đá. Hoàng A vào trong phòng ngủ nhà K lấy ra bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá (đã chuẩn bị từ trước) rồi đi ra khu vực cạnh bờ ao phía sau nhà K. Tại đây B1 đưa túi ma túy đá cho Hoàng A, Hoàng A lấy ma túy cho vào nõ thủy tinh rồi dùng bật lửa đốt, Hoàng A hút hơi đầu tiên sau đó châm cho B1 và K hút. Sau khi hút khoảng 2 – 3 lần thì cả ba tiếp tục chuyển vào trong phòng ngủ nhà K. Trong phòng ngủ K dùng bật lửa châm rồi tự mình sử dụng 01 lần, tiếp tục Khởi châm cho Hoàng A và B1 hút. Khi sử dụng hết cả ba nằm ngủ, đến khoảng 08 giờ ngày 18/9/2023 thì bị Tổ công tác công an huyện H kiểm tra phát hiện cả ba có biểu hiện vừa sử dụng ma túy.
Trước đó, vào tối ngày 15/9/2023, Đỗ Văn B1 đưa cho Phạm Hoàng A 500.000 đồng để mua ma túy về sử dụng cùng nhau. Hoàng A gọi điện thoại cho Mạc Văn M1 hỏi mua ma túy đá, M1 đồng ý bán. Sau đó Hoàng A cùng Phạm Văn K điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn tại khu vực gần T3, phía đường thuộc thôn B, xã Q, huyện H và mua 01 gói ma túy đá của M1 với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, cả hai quay về nhà K, Hoàng A lấy 01 chai nhựa đục 02 lỗ trên nắp chai, khò ống thủy tinh uốn thành nõ, còn K chuẩn bị ống hút nhựa rồi cả ba đi ra khu vực bờ ao (phía sau nhà K), Hoàng A tiếp tục cắm nõ thủy tinh, ống hút nhựa vào nắp chai nhựa để tạo thành dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó Hoàng A cho ma túy đá vào trong nõ thủy tinh rồi dùng bật lửa đốt và sử dụng đầu tiên. Tiếp theo B1, K tự lấy châm và tự hút đến khi hết ma túy thì dừng lại.
[2] Căn cứ nội dung lời khai của Phạm Hoàng A và Đỗ Văn B1, cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mạc Văn M1. Quá trình điều tra, Mạc Văn M1 khai nhận 02 lần bán ma túy cho Hoàng A như đã nêu trên, đồng thời M1 còn khai nhận việc mua ma túy của Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 (là vợ của H), sau đó chia nhỏ ra để sử dụng và bán kiếm lời, cụ thể: ngày 10/9/2023, sau khi mua 10 túi ma túy của Nguyễn Văn H với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng), M1 chia thành nhiều túi nhỏ hơn, để vừa bán vừa sử dụng, trong đó có bán cho Hoàng A 01 túi với giá 500.000 đồng vào tối ngày 15/9/2023. Ngày 17/9/2023, M1 tiếp tục mua 04 túi nilon ma túy với giá 1.600.000 đồng vợ chồng Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1 và cũng chia thành các túi nhỏ hơn, trong đó có bán cho Hoàng A 01 túi với giá 500.000 đồng vào chiều ngày 17/9/2023. Quá trình khám xét khẩn cấp đối Mạc Văn M1 thu giữ 01 chiếc điện thoại VIVO gắn sim 0973.105.xxx, vỏ ốp màu nâu bên trong ốp điện thoại có 01 túi nilon kích thước khoảng (02 x 02)cm, một đầu có khóa kẹp màu xanh, bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M5); kiểm tra phương tiện M1 đang điều khiển là xe ô tô tải BKS 36C-299.41, thu giữ 01 túi nilon bên trong có 04 túi nhỏ kích thước (2x2)cm trong hộc để đồ trên cánh cửa bên lái xe ô tô, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng – ký hiệu từ M6 đến M9 theo M1 khai là ma túy để bán kiếm lời; 01 ống nhựa màu tím bên trong dính chất màu trắng dạng vết – ký hiệu M10, số tiền 1.400.000 đồng của M1.
Tại Bản kết luận số 1389 ngày 25/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu từ M5, M6, M7, M8, M9, M10 thu giữ của Mạc Văn M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, M5 và M10 dạng vết không xác định được khối lượng, tổng khối lượng M6, M7, M8, M9 là 0,612g.
Ngoài ra vào ngày 13/9/2023, Mạc Văn M1 còn bán ma túy đá cho Trần Bá Đ1 với giá 500.000 đồng, tại khu vực thuộc thôn E, xã Q, huyện H. M1 giao ma túy đá và nhận tiền mặt từ Nguyễn Văn N3 (là người Đức nhờ đến lấy ma túy). Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, bên trong gắn sim số 0966.694.981 của Trần Bá Đ1.
Ngoài mua ma túy đá của Nguyễn Văn H, Mạc Văn M1 còn khai nhận 02 lần mua ma túy của Giang Văn Đ, cụ thể: lần thứ nhất, vào buổi chiều ngày 06/01/2023, M1 liên lạc với Đ hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng để sử dụng, Đ đồng ý và hẹn M1 đến nhà Đ. Sau đó, Đ đưa cho M1 01 túi ma túy đá tại khu vực sân nhà Đ, M1 chuyển 400.000 đồng từ tài khoản của M1 vào tài khoản của Đ. Lần thứ hai cách lần thứ nhất khoảng 05 ngày, M1 tiếp tục liên lạc với Đ để hỏi mua 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng để sử dụng. Lần này vẫn giao dịch tại sân nhà Đ nhưng M1 trả tiền mặt cho Đ.
[3] Căn cứ nội dung lời khai của Mạc Văn M1, cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1. Quá trình điều tra Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 thừa nhận 02 lần bán ma túy cho Mạc Văn M1 như nội dung lời khai của Mạc Văn M1. Ngoài ra, Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 còn khai nhận:
Tháng 12 năm 2022, Nguyễn Văn H mua ma túy đá của một người đàn ông tại Hải Phòng (không xác định được lai lịch, địa chỉ) sau đó chia nhỏ ra để sử dụng và bán kiếm lời. Nguyễn Văn H nhiều lần bán cho Giang Văn Đ, trong đó xác định được 02 lần cụ thể là: Khoảng 08 giờ ngày 20/01/2023, Đ hỏi mua 10 túi ma túy đá thì H đồng ý và mang đến nhà Đ thuộc thôn E, xã Q, huyện H. Tại đây Nguyễn Văn H bán cho Đ 10 túi nilon bên trong chứa ma túy đá với giá 3.500.000 đồng, Đ nhận hàng rồi chuyển tiền từ tài khoản của Đ vào tài khoản của Nguyễn Văn V – con trai của H. Lần thứ hai vào chiều ngày 15/02/2023, Đ tiếp tục hỏi mua nên Nguyễn Văn H bán cho Đ 10 túi ma túy đá với giá 2.800.000 đồng tại nhà H thuộc thôn A, xã Q, huyện H. Đ cũng chuyển 2.800.000 vào tài khoản của Nguyễn Văn V.
Đến khoảng tháng 6 năm 2023, Nguyễn Văn H tiếp tục mua ma túy đá của một người đàn ông không quen biết tại Hải Phòng rồi san ra nhiều túi nilon nhỏ (túi có kích thước khoảng 2x2 cm, có khóa kẹp màu xanh) để vừa bán vừa sử dụng. Bùi Thị H1 biết H có ma túy, do không muốn chồng sử dụng tùy tiện nên H1 bảo H đưa ma túy cho H1 giữ, khi có khách hỏi mua ma túy thì H sẽ bảo để H1 đưa ma túy cho H bán. Trong đó xác định được các lần bán ma túy như sau:
- - Nhiều lần bán ma túy cho Trần Bá Đ1 để Đ1 sử dụng. Cụ thể: Ngày 18/8/2023 Nguyễn Văn H bán cho Đ1 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng. Ngày 21/8/2023, Nguyễn Văn H bán cho Đ1 03 lần, lần đầu tiên 02 túi ma túy đá với giá 1.000.000 đồng, 02 lần sau H bán cho Đ1 mỗi lần 01 túi giá 500.000 đồng. Các lần H đều hẹn Đ1 giao ma túy ở khu vực đường vào cao tốc thuộc thôn A, xã Q, huyện H, H để ma túy vào trong chai nhựa cạnh đường để Đ1 tự đến lấy và Đ1 chuyển khoản tiền mua ma túy vào tài khoản của Nguyễn Văn V. Khoảng 19 giờ và 23 giờ ngày 15/9/2023, Đ1 tiếp tục liên hệ với H hỏi mua mỗi lần 500.000 đồng ma tuý đá và nhờ Nguyễn Văn N3 (sinh ngày 13/9/1988, trú tại thôn I, xã Q, huyện H) trực tiếp đến nhà H lấy hộ. H đưa ma tuý cho N3 ở khu vực bếp nhà H còn Đ1 chuyển khoản vào tài khoản của Nguyễn Văn V để trả tiền. Khoảng 10 giờ ngày 16/9/2023, Đ1 liên hệ với H hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá và cũng nhờ N3 đến lấy, còn Đ1 chuyển khoản tiền mua ma túy cho H như mọi lần. Sau đó N3 đến nhà H và H cũng giao ma tuý cho N3 ở khu vực bếp.
- - Bán ma túy cho Đặng Văn H2: Chiều ngày 16/9/2023, Đặng Văn H2 điện thoại cho Nguyễn Văn H hỏi mua 03 túi ma tuý đá. Nguyễn Văn H đồng ý bán cho Đặng Văn H2 03 túi ma tuý đá với giá 1.200.000 đồng (400.000 đồng/01 túi). Sau đó Nguyễn Văn H mang 03 túi ma tuý đá giấu trong 01 vỏ bao thuốc Thăng L5 và mang đến nhà Đặng Văn H2 ở thôn D, xã Q, huyện H. Khi đến cách nhà Đặng Văn H2 khoảng 60m thì Nguyễn Văn H để bao thuốc chứa 03 túi ma tuý đá ở gốc cây rồi đi về, và gọi điện báo cho Đặng Văn H2 vị trí giấu ma tuý để Đặng Văn H2 ra lấy. Lần bán ma túy này Đặng Văn H2 nợ tiền Nguyễn Văn H chưa trả.
Quá trình khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H đã thu giữ: 34 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu đỏ, kích thước khoảng (9,5 x 6)cm; 115 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu xanh, kích thước tương tự nhau, khoảng (2,3 x 2)cm; 01 điện thoại di động OPPO, gắn sim số 0325.500.459; số tiền 75.000.000 đồng thu giữ trong phòng ngủ và 13.750.000 đồng thu giữ trong ví của Nguyễn Văn H; 01 Căn cước công dân của Nguyễn Văn H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0973.753.794 của Bùi Thị H1. Ngoài ra còn tạm giữ của Nguyễn Văn V (con trai của Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1) 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng gắn sim số 0358.560.063 và phong tỏa tài khoản ngân hàng M3 mang tên NGUYEN VAN VIET với số tiền 52.140.000 đồng.
[4] Căn cứ nội dung lời khai của Mạc Văn M1, Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1, cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đặng Văn H2 và bắt tạm giam đối với Giang Văn Đ.
Giang Văn Đ thừa nhận đã mua ma túy của Nguyễn Văn H và 02 lần bán ma túy cho Mạc Văn M1 như nội dung lời khai của Nguyễn Văn H, Mạc Văn M1.
Đặng Văn H2 thừa nhận mua ma túy của Nguyễn Văn H vào ngày 16/9/2023 như nội dung Nguyễn Văn H đã khai nhận, đồng thời khai nhận những lần Đặng Văn H2 bán ma túy gồm: trưa ngày 16/9/2023, Hà Minh S gọi cho Đặng Văn H2 hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá. Sau đó Bế Văn T1 cũng gọi điện thoại cho H2 hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý đá. Sau đó, Đặng Văn H2 cất 01 túi ma tuý cất trong người để dành bán cho S, còn lại 02 túi sẽ bán cho T1 thì H2 để ở chính vị trí mà Nguyễn Văn H để cho H, rồi gọi cho T1 báo là đã có ma tuý và hướng dẫn T1 đến lấy ma tuý. T1 đồng ý rồi làm đến điểm hẹn lấy 02 túi ma túy về sử dụng và nợ tiền chưa trả cho Đặng Văn H2. Đối với 01 túi ma túy còn lại, H2 mang về san ra sử dụng một ít, số còn lại H2 vẫn đóng trong túi, để vào trong chai nhựa rồi để ở rìa đường gần nhà H2 (cách Nhà văn hóa thôn D1 khoảng 20m), sau đó Đặng Văn H2 hướng dẫn S địa điểm giấu ma túy. S đến lấy ma tuý về sử dụng. Sau đó cả S và T1 đều đã chuyển khoản trả tiền mua ma túy cho H2. Khoảng gần 23 giờ cùng ngày S mới chuyển khoản trả tiền vào số tài khoản của Đặng Văn H2 500.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đặng Văn H2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, gắn sim số 0931.512.695, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, gắn sim số 0904.101.174; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, không gắn sim, 01 Căn cước công dân của Đặng Văn H2; số tiền 23.000.000 đồng; 09 ống hút có các hình dạng, màu sắc khác nhau. Ngoài ra khi khám xét khẩn cấp còn thu giữ trong gầm giường ở nhà chòi gần ao cá của nhà H2 01 (một) hộp hình chữ nhật, màu đen bằng nhựa, bên trong chứa 01 (một) túi nilon có khóa kẹp, kích thước khoảng 02x02cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng – ký hiệu M, không xác định được là của ai.
Tại Bản kết luận giám định số 1405 ngày 27/9/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu vật kí hiệu M gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,241 gam.
[5] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn V khai nhận anh là con của bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1, anh có 01 số tài khoản mang tên anh nhưng để bố mẹ anh sử dụng, anh không biết các giao dịch liên quan đến việc mua bán ma túy, chiếc điện thoại di động anh bị cơ quan điều tra thu giữ anh không sử dụng liên lạc liên quan đến việc mua bán ma túy của bố mẹ anh.
[6] Quá trình điều tra, cơ quan điều tra không xác minh được đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn H, đối tượng tên Nguyễn Văn N3 nhận ma túy cho Trần Bá Đ1 không có mặt tại địa phương. Những người mua ma túy về sử dụng gồm Trần Bá Đ1, Hà Minh S, Bế Văn T1 đã bị Công an huyện H xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
[7] Bản cáo trạng số 08/CT-VKSHH, ngày 20/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà truy tố các bị cáo Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Đặng Văn H2, Giang Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự
[8] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đã giữ nguyên quyết định truy tố và luận tội đối với các bị cáo; sau khi phân tích nội dung vụ án, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị với Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b,q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 năm đến 09 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Phạt bổ sung: bị cáo Nguyễn Văn H từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị Hiền t 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Phạt bổ sung: bị cáo Bùi Thị Hiền t 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- - Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo:
- + Mạc Văn M1 từ 07 năm 6 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023
- + Đặng Văn H2 từ 07 năm 6 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023
- + Giang Văn Đ từ 07 năm 6 tháng đến 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Phạt bổ sung bị cáo Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2 mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- - Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 (khoản 2 Điều 51 áp dụng đối với bị cáo Phạm Hoàng A và Phạm Văn K), Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Phạm Hoàng A, Đỗ Văn B1, Phạm Văn K từ 07 năm đến 07 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/9/2023, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- * Về vật chứng:
- Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: số ma túy hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 1389/KL-KTHS; 01 chai nhựa trắng, dung tích 300ml, có nắp chai màu đỏ, được đục 02 lỗ: 01 lỗ được cắm ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ được cắm ống hút nhựa; 34 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu đỏ, kích thước khoảng (9,5 x 6)cm ; 115 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu xanh, kích thước tương tự nhau, khoảng (2,3 x 2)cm; 09 ống hút có các hình dạng, màu sắc khác nhau.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động Iphone X màu vàng đồng, gắn sim số 0325.156.020 thu giữ của Đỗ Văn B1; 01 chiếc điện thoại VIVO gắn sim số 0973.105.118, vỏ ốp màu nâu thu giữ của Mạc Văn M1; 01 điện thoại di động OPPO, gắn sim số 0325.500.459 của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0973.753.794 của Bùi Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, gắn sim số 0931.512.695 của Đặng Văn H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, bên trong gắn sim số 0966.694.981 cho Trần Bá Đ1. Tịch thu tiêu hủy các sim trong các điện thoại trên.
- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 10.300.000 đồng của Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1, 1.500.000 đồng của Đặng Văn H2, 1.500.000 đồng của Mạc Văn M1, 800.000 đồng của Giang Văn Đ.
- Trả lại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, gắn sim số 0904.101.174, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, không gắn sim cho Đặng Văn H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng gắn sim số 0358.560.063 cho Nguyễn Văn V. Trả lại số tiền 88.750.000 đồng của Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1; số tiền 1.400.000 đồng của Mạc Văn M1; Số tiền 21.500.000 đồng của Đặng Văn H2 nhưng cần tạm giữ đảm bảo thi hành án. Trả lại căn cước công dân cho bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Văn H2.
- Áp dụng Điều 130 Bộ luật tố tụng hình sự Hủy bỏ phong tỏa tài khoản đối với tài khoản ngân hàng TMCP Q số tài khoản 0365972717, mang tên NGUYEN VAN VIET.
Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra căn cứ vào Biên bản kiểm tra hành chính ngày 18/9/2023, Kết luận giám định, nội dung lời khai người làm chứng, người chứng kiến cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: tối ngày 15/9/2023 và chiều ngày 17/9/2023, tại nhà Phạm Văn K thuộc thôn Q, xã Q, huyện H, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Phạm Văn K, Đỗ Văn B1 và Phạm Hoàng A đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau.
Căn cứ vào lời khai nhận của bị cáo Phạm Hoàng A, người làm chứng Trần Bá Đ1 phù hợp với lời khai của bị cáo Mạc Văn M1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, nội dung Kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Mạc Văn M1 đã có hành vi bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích kiếm lời cho bị cáo Phạm Hoàng A 02 lần vào ngày 15/9/2023 và ngày 17/9/2023; Mạc Văn M1 đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trần Bá Đ1 vào ngày 13/9/2023;
Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2, lời khai của người làm chứng Trần Bá Đ1 phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, nội dung Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H đã có hành vi bán ma túy kiếm lời 02 lần cho Giang Văn Đ vào các ngày 20/01/2023 và 15/02/2023. Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 đã cùng nhau bán ma túy 02 lần cho Mạc Văn M1 vào các ngày 10/9/2023 và 17/9/2023; bán ma túy 07 lần cho Trần Bá Đ1 vào các ngày 18/8/2023, 21/8/2023(03 lần), 15/9/2023 (02 lần), 16/9/2023; bán ma túy cho Đặng Văn H2 01 lần vào ngày 16/9/2023;
Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo Mạc Văn M1, Nguyễn Văn H phù hợp với lời khai của bị cáo Giang Văn Đ tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Giang Văn Đ đã có hành vi bán ma túy trái phép chất ma túy 02 lần cho Mạc Văn M1 vào ngày 06/01/2023 và sau ngày 06/01/2023 khoảng 5 ngày nhằm mục đích kiếm lời.
Căn cứ nội dung khai nhận của bị cáo Nguyễn Văn H, người làm chứng Hà Minh S, Bế Văn T1, phù hợp với lời khai của bị cáo Đặng Văn H2 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Đặng Văn H2 đã có hành vi bán trái phép ma túy cho Hà Minh S, Bế Văn T1 vào ngày 16/9/2023 nhằm mục đích kiếm lời.
[3] Các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2, Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, vi phạm các chính sách của Nhà nước về phòng chống ma túy. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 02 lần cho nhau của 03 bị cáo Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A đã cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần của các bị cáo Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2 đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi mua bán trái phép nhiều lần của bị cáo Nguyễn Văn H trong trương hợp tái pham nguy hiểm đã cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự . Quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà đối với các bị cáo là có căn cứ pháp lý.
Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;"
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
q) Tái phạm nguy hiểm
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội, gây thiệt hại đến sức khỏe của chính những người sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là cần thiết, mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này đang gia tăng trong thời gian gần đây.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Đỗ Văn B1 và Phạm Hoàng A góp tiền cùng nhau mua ma túy, bị cáo Phạm Văn K chuẩn bị công cụ để sử dụng ma túy, lấy địa điểm nhà của bị cáo K làm nơi để các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên các bị cáo có vai trò ngang nhau. Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Bùi Thị H1, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo H có vai trò chính trực tiếp mua, bán ma túy, thu tiền, bị cáo H1 giúp sức tích cực quản lý ma túy cho bị cáo H, trực tiếp bán ma túy khi bị cáo H không có nhà, cùng hưởng lợi nhuận thu được từ việc mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2 thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy một cách độc lập.
[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2, Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Mạc Văn M1 có nhân thân năm 2013 bị TAND huyện Hải Hà xử 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; năm 2018 bị TAND huyện Hải Hà xử 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Bị cáo Đặng Văn H2 có nhân thân năm 2010 bị TAND huyện Hải Hà xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo Giang Văn Đ có tiền sự năm 2023 bị TAND huyện Hải Hà ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và nhân thân năm 2013 bị TAND tỉnh Hưng Yên xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Đánh bạc.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2, Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự, các bị cáo Phạm Văn K, Đỗ Văn B1 và Phạm Hoàng A còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy cho nhau không vì mục đích lợi nhuận, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với 03 bị cáo. Đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Giang Văn Đ và Đặng Văn H2 mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần nhằm mục đích kiếm lời, do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự như nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hà tại phiên tòa.
[5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên khi xem xét quyết định hình phạt cần phải căn cứ vào vai trò của từng bị cáo trong vụ án như đã phân tích, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, số lần bán ma túy của từng bị cáo. Bị cáo Nguyễn Văn H bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, bị cáo bán ma túy cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chứng minh làm rõ là 12 lần, bị cáo là nơi cung cấp ma túy cho các bị cáo khác bán lại trên địa bàn, do đó hành vi của bị cáo H cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo. Bị cáo Bùi Thị H1 là vợ của bị cáo Nguyễn Văn H, không những không ngăn cản việc mua bán trái phép chất ma túy của chồng mà còn giúp sức tích cực cho bị cáo Nguyễn Văn H, quản lý chất ma túy cho bị cáo H trong việc bán ma túy, cùng hưởng lợi nhuận từ việc mua bán ma túy nên cần phải xử lý nghiêm.
Các bị cáo Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2 đều mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần nhằm mục đích kiếm lời, đều có nhân thân xấu do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc ngang nhau đối với 03 bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn H2 thành khẩn khai nhận toàn bộ số tiền bị cáo chuyển khoản cho bị cáo Nguyễn Văn H là tiền mua ma túy của Nguyễn Văn H, mặc dù không đủ căn cứ để xác định số tiền này là tiền mua ma túy do bị cáo H không thừa nhận, nhưng cũng cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị Đặng Văn H2 so với hình phạt áp dụng cho hai bị cáo Mạc Văn M1 và Giang Văn Đ, để bị cáo H2 thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Các bị cáo Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau, không vì mục đích lợi nhuận, bị cáo góp tiền, bị cáo mua ma túy, bị cáo cung cấp địa điểm, cả ba đều không có tiền án, tiền sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt ngang nhau đối với ba bị cáo.
[6] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Số ma túy hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 1389/KL-KTHS; 01 chai nhựa trắng, dung tích 300ml, có nắp chai màu đỏ, được đục 02 lỗ: 01 lỗ được cắm ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ được cắm ống hút nhựa; 34 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu đỏ, kích thước khoảng (9,5 x 6)cm ; 115 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu xanh, kích thước tương tự nhau, khoảng (2,3 x 2)cm; 09 ống hút có các hình dạng, màu sắc khác nhau, đây là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, công cụ phương tiện phạm tội, vật không có giá trị sử dụng, do đó căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy.
01 Điện thoại di động Iphone X màu vàng đồng, gắn sim số 0325.156.020 thu giữ của Đỗ Văn B1; 01 chiếc điện thoại VIVO gắn sim số 0973.105.118, vỏ ốp màu nâu thu giữ của bị cáo Mạc Văn M1; 01 điện thoại di động OPPO, gắn sim số 0325.500.459 của Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0973.753.794 của Bùi Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, gắn sim số 0931.512.695 thu giữ của Đặng Văn H2, đây là công cụ phương tiện phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Tịch thu tiêu hủy các sim trong các điện thoại trên.
Số tiền có được do bán ma túy của Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 là 10.300.000 đồng, của Đặng Văn H2 là 1.500.000 đồng, của Mạc Văn M1 là 1.500.000 đồng, của Giang Văn Đ là 800.000 đồng, đây là tiền do phạm tội mà có, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần truy thu sung ngân sách nhà nước
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, gắn sim số 0904.101.174, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng hồng, không gắn sim thu giữ của bị cáo Đặng Văn H2, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy, căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần trả lại cho các bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng gắn sim số 0358.560.063 thu giữ của anh Nguyễn Văn V, không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho anh V.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, bên trong gắn sim số 0966.694.981 thu giữ của Trần Bá Đ1, tại Đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ1 không đề nghị nhận lại do sử dụng vào việc mua ma túy, nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với số tiền thu giữ của Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 gồm 75.000.000 đồng thu giữ tại phòng ngủ nhà Nguyễn Văn H và 13.750.000 đồng thu giữ tại ví của Nguyễn Văn H, theo nội dung lời khai của H thì số tiền 13.750.000 đồng là tiền bán ma túy của hai vợ chồng bị cáo, tuy nhiên không xác định được cụ thể số tiền bán ma túy cho ai và số tiền 75.000.000 đồng là tiền hợp pháp của hai vợ chồng bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1, hơn nữa đã nhận định việc truy thu số tiền 10.300.000 đồng tiền bán ma túy 12 lần của Nguyễn Văn H, do đó cần trả lại số tiền 13.750.000 đồng và 75.000.000 đồng cho bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 1.400.000 đồng thu giữ của Mạc Văn M1 theo nội dung lời khai của Mạc Văn M1 thì có 400.000 đồng tiền bán ma túy cho Đinh Khắc H5, tuy nhiên trong vụ án cơ quan điều tra chưa xác định được lai lịch địa chỉ của H5, bị cáo M1 không bị truy tố, xét xử về lần bán ma túy cho Đinh Khắc H5 và 1.000.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo, do đó cần trả lại cho bị cáo Mạc Văn M1 1.400.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với số tiền 23.000.000 đồng thu giữ của Đặng Văn H2, quá trình điều tra không xác định được nguồn gốc do mua bán trái phép chất ma túy, do đó cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 02 căn cước công dân thu giữ của hai bị cáo Nguyễn Văn H và Đặng Văn H2, là giấy tờ tùy thân của hai bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho hai bị cáo.
Đối với số tiền 52.140.000 đồng có trong tài khoản ngân hàng TMCP Q số tài khoản 0365972717, mang tên NGUYEN VAN VIET đã bị phong tỏa, quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 đều khai nhận số tiền trong tài khoản của anh Nguyễn Văn V (con trai của hai bị cáo) là tiền của bị cáo H và bị cáo H1; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn V cũng xác nhận số tiền 52.140.000 đồng mặc dù có trong tài khoản của anh, nhưng là tiền của bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1, quá trình điều tra không xác định được số tiền mua bán ma túy, hơn nữa số tiền thu giữ tại nhà của hai bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 đã đảm bảo việc truy thu tiền do phạm tội mà có và thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền, và tại phiên tòa hai bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 đề nghị giao lại số tiền trong tài khoản cho anh Nguyễn Văn V, do đó không cần thiết phải tiếp tục phong tỏa tài khoản, áp dụng khoản 2 Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bỏ phong tỏa tài khoản đối với tài khoản ngân hàng TMCP Q số tài khoản 0365972717, mang tên NGUYEN VAN VIET.
Đối với chiếc xe ô tô tải BKS 36C-299.41 thu giữ của Mạc Văn M1, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Minh T2, anh Tâm g xe cho Mạc Văn M1 để chở đất, không biết M1 sử dụng để cất giấu ma túy, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô tải cho anh Nguyễn Minh T2 là đúng quy định của pháp luật.
[7] Liên quan trong vụ án còn có đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn H, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không đề cập. Đối với Trần Bá Đ1, Hà Minh S, Bế Văn T1 mua ma túy về sử dụng trái phép, không định lượng được ma túy đã mua, Công an huyện H đã xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của pháp luật. Đối với Nguyễn Văn N3 nhận ma túy, giao tiền hộ Trần Bá Đ1 hiện không có mặt tại địa phương nên không đề cập giải quyết. Đối với 0,241 gam ma túy loại methamphetamine thu giữ khi khám xét khẩn cấp chòi gần ao cá nhà Đặng Văn H2, quá trình điều tra không xác định được nguồn gốc, thuộc sở hữu của ai, cơ quan điều tra đã khởi tố bổ sung vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy, tách vụ án để làm rõ xử lý sau nên không đề cập
Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: điểm b, q khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
[2] Căn cứ: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị H1 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Bùi Thị H1 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).
[3] Căn cứ: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Mạc Văn M1 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Mạc Văn M1 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
[4] Căn cứ: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Giang Văn Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Giang Văn Đ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
[5] Căn cứ: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2023.
Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đặng Văn H2 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
[6] Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn K 07( bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.
[7] Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn B1 07( bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.
[8] Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoàng A 07( bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023.
* Về xử lý vật chứng:
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: số ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định trong niêm phong số 1389/KL-KTHS; 01 chai nhựa trắng, dung tích 300ml, có nắp chai màu đỏ, được đục 02 lỗ, 01 lỗ được cắm ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ được cắm ống hút nhựa; 34 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu đỏ, kích thước khoảng (9,5x6)cm ; 115 túi nilon, một đầu có khóa kẹp màu xanh, kích thước tương tự nhau, khoảng (2,3x2) cm; 09 ống hút có các hình dạng, màu sắc khác nhau;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone X màu vàng đồng, gắn sim số 0325.156.020 thu giữ của Đỗ Văn B1; 01 chiếc điện thoại VIVO gắn sim số 0973.105.118, vỏ ốp màu nâu thu giữ của bị cáo Mạc Văn M1; 01 điện thoại di động OPPO, gắn sim số 0325.500.459 thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 Điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, gắn sim số 0973.753.794 thu giữ của Bùi Thị H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, gắn sim số 0931.512.695 thu giữ của Đặng Văn H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, bên trong gắn sim số 0966.694.981 thu giữ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Bá Đ1. Tịch thu tiêu hủy các sim trong các điện thoại trên.
- - Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 số tiền là 10.300.000 đồng; truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Đặng Văn H2 số tiền là 1.500.000 đồng; truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Mạc Văn M1 số tiền là 1.500.000 đồng; truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Giang Văn Đ số tiền là 800.000 đồng;
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H và Bùi Thị H1 88.750.000 đồng, trả lại cho bị cáo Mạc Văn M1 1.400.000 đồng, trả lại cho bị cáo Đặng Văn H2 23.000.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn H; trả lại cho bị cáo Đặng Văn H2 01 căn cước công dân mang tên Đặng Văn H2;
Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hà quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản, ngày 12/3/2024.
* Căn cứ vào khoản 2 Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp phong tỏa tài khoản theo Lệnh phong tỏa tài khoản số 01/LPT-CQCSĐT, ngày 04/10/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đối với tài khoản số 0365972717 mang tên Nguyễn Văn V tại Ngân hàng TMCP Q – M3.
* Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Bùi Thị H1, Mạc Văn M1, Giang Văn Đ, Đặng Văn H2, Phạm Văn K, Đỗ Văn B1, Phạm Hoàng A, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
*Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào khoản 1, 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Minh Chiến |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HÀ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Bùi Thị H1 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Bùi Thị H1 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Mạc Văn M1 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/9/2023. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Mạc Văn M1 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Giang Văn Đ 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/01/2024. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Giang Văn Đ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/9/2023. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Đặng Văn H2 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
