|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày 23-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chúc Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phát To
- Bà Trịnh Thị Thu Hà
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Phát Tấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại Nhà Văn hóa xã T huyện C, tỉnh Hậu Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
- Nguyễn Cao B; Tên gọi khác: Không có, sinh năm: 1992, tại tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Áp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Kim K, sinh năm 1964; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có; Tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng thể hiện tại Quyết định số 46/QĐ-XPHC ngày 04/5/2021 của Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25 tháng 9 năm 2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Thành T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số A, khu V, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Việt H, Lâm Ngọc H1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo lời trình bày của anh Nguyễn Thành T: Vào ngày 13/3/2022, Nguyễn Cao B đến quán cà phê tên Thùy L của anh Nguyễn Thành T, tọa lạc tại ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang nói chuyện về việc bảo kê quán cà phê Thùy L cho anh T, với giá 150.000 đồng/ngày, anh Nguyễn Thành T không đồng ý nên Nguyễn Cao B bỏ về.
Đến khoảng 23 giờ ngày 16/3/2022, Nguyễn Cao B đi cùng nhiều người bằng xe môtô đến quán cà phê Thùy L. Khi đến quán T1, B cầm theo dao tự chế, sắc bén đi vào quán tìm chém anh Nguyễn Thành T. Anh T nhìn thấy B cầm dao chạy vô quán, nên bỏ chạy lại quầy bán nước định lấy cây rựa để tự vệ, nhưng chưa kịp lấy ra thì B lao đến chém, anh T giơ tay trái lên đỡ, nên B chém trúng vào cổ tay, bàn tay trái của anh T, rồi B tiếp tục chém trúng vào khuỷu tay trái của anh T, sau đó một số thanh niên đi chung với B cũng nhào đến cùng B chém, đánh anh T trúng vào vùng thái dương phải, cổ, khuỷu, cẳng, bàn tay phải, anh T bị thương bỏ chạy ra khỏi quán và chạy đến cổng Công ty C để nhờ giúp đỡ thì gục ngã và được người thân đến đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đ đến ngày 21/3/2022 thì xuất viện.
Theo lời trình bày của bị cáo Nguyễn Cao B: Trước ngày 16/3/2022 vài ngày, B đến quán cà phê do anh T làm chủ để uống cà phê. Tại đây, do quán phục vụ không tốt nên giữa bị cáo B và anh thông xảy ra cự cãi. Sau đó anh T hẹn B đi đánh nhau nhưng anh T không đến. Vì vậy, ngày 16/3/2022, sau khi nhậu say, B nhớ lại mâu thuẫn với anh T nên đến tìm anh T nói chuyện. Khi Bằng đến nơi gặp anh T thì anh T lấy cây rựa ra, hai bên giằng co, B giật cây rựa trên tay anh T và chém anh T gây thương tích. Bị cáo B xác định, ngoài bị cáo ra không có ai đi cùng bị cáo đến quán anh T và chỉ có bị cáo gây thương tích cho anh T.
Sau khi gây thương tích cho anh T, bị cáo Nguyễn Cao B bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 04/9/2023, Nguyễn Cao B đến Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang đầu thú, khai nhận hành vi dùng dao chém gây thương tích cho anh Nguyễn Thành T.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 99/22/TgT ngày 04/5/2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh H đối với Nguyễn Thành T kết luận:
- “1. Dấu hiệu chính tại thời điểm giám định: Đa vết thương phần mềm; Gãy đa xương; Mỏm cụt ngón II.
- 2. Kết luận
- 2.1. Tỷ lệ từng vết thương:
- Vết thương thái dương (P) gây tổn hại sức khỏe hiện tại theo TT 22/2019/TT-BYT là 01%.
- 02 vết thương sau khuỷu tay trái gây tổn hại sức khỏe hiện tại theo TT 22/2019/TT-BYT là 04%.
- Vết thương mặt ngoài cổ tay trái gây tổn hại sức khỏe hiện tại theo TT số 22/2019/TT-BYT là 03%.
- Vết thương kẻ ngón bàn tay trái. Vết làm gãy đốt bàn ngón II, gãy đốt gần ngón III, mỏm cụt ngón 3 tay (T) gây tổn hại sức khỏe hiện tại. Theo TT số 22/2019/TT-BYT là 17%.
- Vết thương mặt ngoài khuỷu tay phải gây tổn hại sức khỏe hiện tại. Theo TT số 22/2019/TT-BYT là 01%.
- Vết thương mặt ngoài 1/3 cẳng tay phải gây tổn hại sức khỏe hiện tại. Theo TT 22/2019/TT-BYT là 03%.
- Vết thương mặt sau cổ tay phải gây tổn hại sức khỏe hiện tại. Theo TT số 22/2019/TT-BYT là 01%.
- 02 vết thương mặt lòng kẻ ngón IV, V bàn tay phải gây tổn hại sức khỏe hiện tại. Theo TT số 22/2019/TT-BYT là 05%.
- 2.2. Tổng tỷ lệ thương tích gây tổn hại sức khỏe hiện tại. Theo TT số 22/2019/TT-BYT là 31%.
- 2.3. Vật gây ra vết thương:
- Vết thương thái dương phải do vật tày gây nên.
- Các vết thương còn lại do vật sắc bén gây nên”.
Tại Cáo trạng số 14/CT-VKS-HCTA ngày 08/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Cao B về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Cao B đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo B xác định chỉ đi một mình đến tìm và gây thương tích cho anh T. Trong khi đó, bị hại là anh Nguyễn Thành T và người làm chứng Lâm Ngọc H1 (lời khai trong hồ sơ vụ án) xác định ngoài bị cáo B ra còn một số thanh niên khác đi cùng với B đến quán và gây thương tích cho anh T. Tuy nhiên, anh T và chị H1 không biết những người đi cùng B là ai, tên gì, ở đâu.
Bị cáo B thống nhất kết luận giám định thương tích đối với anh Nguyễn Thành T, thống nhất truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A về hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Cao B về tội “Cố ý gây thương tích”. Sau khi phân tích các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; phân tích hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134 khoản 2 Điều 51 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao B từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 25 tháng 9 năm 2023.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 174.000.000đồng, bao gồm tiền điều trị thương tích, tiền ngày công lao động, tiền công nuôi bệnh, tiền thuê bác sĩ chăm sóc tại nhà.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 174.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Việc khởi tố, điều tra của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người làm chứng.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Cao B đã khai nhận một mình bị cáo đến tìm bị hại T để nói chuyện và xảy ra sự việc gây thương tích chứ không có việc bị cáo đòi tiền bảo kê quán của anh T. Trong khi đó, anh T và người làm chứng Lâm Ngọc H1 khai thống nhất là bị cáo cùng một số thanh niên khác đến quán tìm anh T gây thương tích nhưng không xác định được họ tên, nhân thân, địa chỉ của những người này nên cơ quan cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ thêm. Về hung khí gây thương tích, bị cáo B cho rằng dùng cây rựa giật được trên tay của bị hại để chém bị hại, trong khi bị hại cho rằng bị cáo có cầm dao tự chế theo khi vào quán và dùng dao tự chế chém bị hại. Kết quả truy tìm, không tìm thấy hùng khi như lời khai của bị hại và bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo Bằng thừa n bị cáo là người dùng dao chém bị hại gây thương tích. Vì vậy, chứng minh được như sau:
Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó, nên vào khoảng 23 giờ ngày 16/3/2022, Nguyễn Cao B đã đến quán T1, dùng dao gây thương tích cho anh T. Khi đến quán T1, B sử dụng dao tự chế, sắc bén, chém trúng vào cổ tay, bàn tay, khuỷu tay trái và tay phải, vùng thái dương phải của anh Nguyễn Thành T gây thương tích tổn hại đến sức khoẻ 31%. Sau khi gây thương tích cho anh T, Nguyễn Cao B điều khiển xe môtô tẩu thoát.
Bị cáo Nguyễn Cao B là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc dùng dao gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mẫu thuẫn nhỏ nhặt trước đó, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi gây thương tích cho anh T. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, đã xâm phạm đến sức khỏe, thân thể của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.
Vì vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Cao B đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với các đối tượng đi cùng bị cáo Nguyễn Cao B: Theo lời khai của bị hại Nguyễn Thành T và người làm chứng Lâm Ngọc H1 thì B cùng với một số người khác đến tìm và gây thương tích cho T, nhưng anh T và chị H1 đều không cung cấp được thông tin về nhân thân, lai lịch, hình thức nhận dạng những người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch của những người này để điều tra làm rõ. Vì vậy, không có cơ sở chứng minh bị cáo B thực hiện hành vi phạm tội cùng đồng phạm.
[2.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Cao B đầu thú nên được xem xét cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hinh sự. Trong đó, có hai tình tiết định khung tại điểm a và điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, cụ thể là tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và phạm tội có tính chất côn đồ.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi gây rối trật tự công cộng, ngày 04/5/2021 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đồng, bị cáo chưa thực hiện nộp phạt. Đến nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cho thấy bị cáo là người xem thừng pháp luật.
Từ những cơ sở trên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ đánh giá toàn bộ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, mức độ thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn, hối cải, các tình tiết giảm nhẹ nhân thân của bị cáo trong vụ án mà có mức hình phạt thích hợp, đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo nhưng vẫn thể hiện được tính khoan hồng của pháp luật.
[2.3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 174.000.000đồng, bao gồm:
- Chi phí điều trị vết thương tại cơ sở Y, tiền thuốc, mua thiết bị y tế, chi phí xét nghiệm, viện phí: 80.000.000đồng.
- Thu nhập bị mất trong 03 tháng, mỗi tháng 15.000.000đồng là 45.000.000đồng.
- Chi phí thuê điều dưỡng rửa vết thương, thay băng từ 23/4/2022 đến 30/7/2022 là 9.800.000đồng.
- Chi phí thuê người chăm sóc tại nhà và bệnh viện từ ngày 23/4/2022 đến 30/7/2022 là 19.600.000đồng.
- Chi phí sinh hoạt, ăn uống của bị hại và người chăm sóc tại bệnh viện, tại nhà từ 23/4/2022 đến 30/7/2022 là 19.600.000đồng.
Tổng cộng là 174.000.000đồng.
Trong quá trình điều tra bị cáo chưa bồi thường thiệt hại, tại phiên tòa bị cáo đồng ý tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa về việc bồi thường thiệt hại là tự nguyện, không trái pháp luật không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
[2.4] Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Không có nên không xem xét giải quyết.
[2.5] Về án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Cao B phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Cao B phải chịu: 5% x 174.000.000đồng = 8.700.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A là có căn cứ, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao B 06 (sáu) năm 06 (tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 25 tháng 9 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Cao B 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23 tháng 4 năm 2024 để đảm đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Không có.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thành Thông số tiền 174.000.000đồng (một trăm bảy mươi bốn triệu đồng).
Kể từ ngày bị hại Nguyễn Thành T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Nguyễn Cao B chậm trả số tiền 174.000.000đồng (một trăm bảy mươi bốn triệu đồng) nêu trên thì bị cáo Nguyễn Cao B còn phải trả cho bị hại Nguyễn Thành Thông số tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Áp dụng Điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Cao B phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 8.700.000đồng (tám triệu bảy trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Cao B, bị hại Nguyễn Thành T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Chúc Linh |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bị cáo có tội, xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù
