Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 21-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Chính và bà Lê Thị Hường

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện N xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 23-4-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

Đào Thanh C - Giới tính: Nam - Sinh ngày: 31/7/1997 tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đào Thanh H; Mẹ: Nguyễn Thị N; Vợ: Phan Thị Lệ H1, có một người con sinh năm 2023.

  • - Tiền án, tiền sự: Không;
  • - Bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.

Trần Anh V - Giới tính: Nam - Sinh ngày: 05/11/1996, tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Dược sĩ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Trần Đặng P; mẹ: Nguyễn Thị C1. Chưa có vợ, con.

  • - Tiền án, tiền sự: Không;
  • - Bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N – Có mặt tại phiên tòa.

Nguyễn Ngọc Hoài H2 (Tên gọi khác: R), Giới tính: Nam, Sinh ngày: 24/7/1998 tại Ninh Thuận; Nơi ĐKHKTT: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Ngọc C2; mẹ: Nguyễn Thị M; Vợ, con: Chưa có.

  • - Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân Thân: ngày 11/10/2023 bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận kết án 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo bản án số 71/2023/HS-PT ngày 11-10-2023.

Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T2 - Thành phố Hồ Chí Minh, được trích xuất về xét xử - Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Anh V: Luật sư Trần Thanh T và Luật sư Lê Trần Thị Thu P1 – Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N – Có mặt.

  • + Bị hại: anh Huỳnh Tấn L – Sinh năm: 1990; địa chỉ: khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Vắng mặt;
  • + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Bà Nguyễn Thị N – Sinh năm: 1964; địa chỉ: khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt.
  • Bà Nguyễn Thị C1 – Sinh năm: 1998; địa chỉ: khu phố D, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt.
  • Anh Trần Công V1; địa chỉ: khu phố E, thị trấn P, N, Ninh Thuận – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/8/2024 sau khi đi hát Karaoke cùng với H2 và V về, C nhớ lại tối ngày hôm trước có xảy ra cãi nhau với L nên nảy sinh ý định đi tìm L để đánh. C đã rủ Trần Anh V và Nguyễn Ngọc H3 H2 đi cùng thì V và H2 đồng ý. H2 điều khiển xe mô tô 85D1-655.40 chở C và V về nhà Trần Công V1 để lấy hung khí. Khi tới nhà thấy anh V1 đang ngủ thì C, H2 đã đi vào chuồng gà tìm hung khí. H2 lấy 01 dao tự chế dài 1,03m đưa cho C và 01 cây dao tự chế dài dài khoảng 60cm đưa cho V. Sau khi có hung khí H2 dùng xe mô tô trên tiếp tục chở C và V đi tìm anh L để đánh. Khi biết anh L đang ở nhà anh Trần Kỳ K ở khu phố F, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cả nhóm đến dừng xe trước cổng nhà anh K, H2 ngồi trên xe đứng ngoài chờ còn C, V vào trong nhà tìm L. Do không biết rõ mặt L như thế nào nên khi vào nhà thấy L đang nằm trên võng thì C hỏi “thằng nào là thằng L”. L nói lại “ kiếm thằng L có việc gì, tao nè”. Thấy H2 và V cầm hung khí L chạy qua hàng rào nhà bà T1 và dùng hai chai bia ném lại nhưng không trúng ai. C và V cầm vũ khí đuổi theo, L tiếp tục bỏ chạy vào khu vực chuồng heo nhà bà T1 thì bị C, Vũ đuổi kịp, C cầm rựa chém 01 nhát từ trên xuống, L đưa tay trái lên đỡ thì bị chém trúng cẳng tay trái. Lượng tiếp tục đứng dậy bỏ chạy thêm khoảng 03m nhặt miếng sắt chống đỡ thì V cầm dao đứng đối diện chém 01 nhát, L đưa 02 tay tay lên đỡ thì trúng vào hai tay gây thương tích. Sau khi chém L xong C và V mang theo hung khí ra xe H2 chở về nhà anh V1 cất giấu rồi về nhà. Anh L được anh K đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện N sơ cứu vết thương, sau đó chuyển Bệnh viên tỉnh Ninh Thuận điều trị, đến ngày 13/8/2023 chuyển vào Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình thành phố H điều trị đến ngày 25/8/2023 ra viện.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 230, ngày 17/10/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Tấn L tại thời điểm giám định là 27%, cụ thể: Vết thương trùng vết mổ hình vòng cung mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái sẹo liền tốt phẳng di động kích thước (15x0,3)cm (02%). Nối gân cơ duỗi cổ tay trụ trái (01%). Nối gân cơ duỗi chung các ngón tay trái (01%). Nối gân cơ duỗi cổ tay quay dài tay trái (01%). Nối gân cơ duỗi cổ tay quay ngắn tay trái (01%). Nối gân cơ cánh tay quay tay trái (01%). Nối gân cơ ngửa tay trái (01%). Dập đứt nhánh thần kinh gian cốt sau tay trái (nhánh sâu của thần kinh quay) (11%). Gãy 1/2 vỏ xương quay tay trái (01%). Mẻ một mảnh xương trụ trái (01%). Vết thương dọc trùng vết mổ mu bàn tay phải sẹo liền xấu lồi lõm kích thước (12x0,4)cm (02%). Nắn trật kết hợp xương cả, xương móc bàn tay phải ảnh hưởng ít đến động tác khớp cổ tay (05%). Nối gân duỗi cổ tay quay dài tay phải (01%). Nối gân duỗi dài ngón cái tay phải (01%). Cơ chế hình thành vết thương: vết thương qua điều trị liền sẹo nhận định do vật sắc gây nên, các vết thương có chiều hướng từ trên xuống dưới tác động trực tiếp. Các vết thương nếu không cấp cứu kịp thời thì không ảnh hưởng đến tính mạng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ vật chứng và xử lý như sau:

  • - 01 (một) cây dao tự chế có cán dao bằng tre, lưỡi dao bằng kim loại, có kích thước dài 1,03m; cán dao dài 56cm, rộng 2,5cm; lưỡi dao dài 47cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 8,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại bị rỉ sét. Quá trình điều tra xác định: Đây là cây dao của anh Trần Công V1, tuy nhiên anh V1 không biết việc C đến nhà lấy cây dao tự chế trên để đi chém anh Huỳnh Tấn L và không yêu cầu nhận lại cây dao trên.
  • Đối với cây dao tự chế Trần Anh V dùng chém anh Huỳnh Tấn L. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng có kết quả.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 85D1 665.40, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, màu đỏ đen, số máy: JF94E0416282, số khung: RLHJF6339MZ171195. Đây là xe mô tô của bị can Nguyễn Ngọc Hoài H2, sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Về dân sự: Trong quá trình điều tra bà Nguyễn Thị N (mẹ của Đào Thanh C) và Nguyễn Thị C1 (mẹ ruột của Trần Anh V) đã đại diện các bị cáo V và C bồi thường thiệt hại cho anh Huỳnh Tấn L với tổng số tiền là 165.000.000 đồng, trong đó bà Nguyễn Thị C1 bồi thường 140.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị N bồi thường 25.000.000 đồng. Anh L đã nhận đủ số tiền không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét đến.

Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an huyện N Đào Thanh C, Trần Anh V và Nguyễn Ngọc Hoài H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 20/CT-VKS-HS ngày 22-4-2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước đã truy tố Đào Thanh C, Trần Anh V và Nguyễn Ngọc Hoài H2 về tội: Cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Đào Thanh C từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Trần Anh V từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài H2 từ 30 tháng đến 36 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và nghĩa vụ về án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo C không có ý kiến tranh luận, nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo H2 không tranh luận tội danh, hình phạt, tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử không tịch thu chiếc máy, lý do đây là tài sản của cha mẹ bỏ tiền mua, bị cáo chỉ đứng tên.

Người bào chữa cho bị cáo V tranh luận 02 nội dung cụ thể như sau:

  • Về tội danh: tranh luận không áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ đối với bị cáo V vì cho rằng V bị C rủ rê, lôi kéo và trước đó bị cáo C và H2 đã có mâu thuẫn với bị hại;
  • Về hình phạt: tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 đối với bị cáo V khi quyết định hình phạt lý do bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 và hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 đồng thời bị cáo tích cực bồi thường cho bị hại số tiền 140.000.000 đồng và đề nghị áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo V không có ý kiến tranh luận bổ sung.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại hành về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, xét thấy đã có lời khai trong quá trình điều tra, truy tố và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa.

[3]. Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố tại bản cáo trạng. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 15 giờ ngày 10/8/2024, sau khi đi hát karaoke về C nhớ lại tối hôm trước có cãi nhau với L nên C rủ V và H2 tìm L để đánh thì được V và H2 đồng ý. H2 chở V và C bằng xe mô tô biển số 85D1 – 655.40 đến nhà anh Trần Công V1 để lấy hung khí. Khi đến nơi, thấy anh V1 đang ngủ, H2 đi vào chuồng gà lấy 01 dao tự chế dài 1,03m đưa cho C và 01 cây dao tự chế dài dài khoảng 60cm đưa cho V. Sau khi lấy được hung khí, H2 chở C và V tới nhà anh K ở khu phố F thị trấn P tìm L để đánh. Khi đến nơi, H2 ngồi trên xe đứng ngoài còn C và V mang hung khí vào chém anh L gây thương tích ở hai tay với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 27% theo kết luận giám định số 230, ngày 17/10/2023 của Trung tâm Giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N.

Xét các bị cáo C và H2 khai trước đó có cãi nhau với L, tuy nhiên các bị cáo không biết rõ hình dạng Lượng trông như thế nào điều này chứng tỏ nếu có mâu thuẫn thì cũng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống. Đối với bị cáo V hoàn toàn không có mâu thuẫn với L, tuy nhiên khi được rủ đi đánh L đã đồng ý. Như vậy, hành vi dùng hung khí nguy hiểm chém anh L là hành vi thể hiện tính chất côn đồ của các bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo V tranh luận đề nghị không áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ với bị cáo V là không có căn cứ chấp nhận như đã phân tích ở trên.

[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Đối với bị cáo Đào Thanh C và bị cáo Trần Anh V có chung tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Bị cáo ra đầu thú và người bị hại làm đơn bãi nãi cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài H2 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo. Bị cáo ra đầu thú và người bị hại làm đơn bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, phạm tội thuộc trường hợp có tính chất côn đồ và dùng hung khí nguy hiểm nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng để răn đe, giáo dục các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống đồng thời có tác dụng phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn trong đó: bị cáo C là người rủ rê, lôi kéo V và H2 đồng thời C là người thực hành tích cực nhất; đối với bị cáo V tham gia với vai trò là người thực hành nhưng có vai trò hạn chế hơn bị cáo C; bị cáo H2 là người lấy hung khí, chở đi tuy không trực tiếp gây thương tích cho bị hại nhưng thuộc trường hợp giúp sức tích cực.

Xét bị cáo C có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm theo khoản 1 Điều 51 và hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 tuy nhiên, C là bị cáo đầu vụ với vai trò là người rủ rê, lôi kéo đồng thời là người thực hành tích cực, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng nên không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình.

Xét bị cáo V có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm theo khoản 1 Điều 51 và hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51, bị cáo là người thực hành nhưng là người bị rủ rê lối kéo, bị cáo có nhân thân tốt, sau khi gây thiệt hại đã chủ động bồi thường phần lớn thiệt hại (bồi thường số tiền 140.000.000 đồng) nên khi lượng hình được xem xét áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xem xét mức hình phạt phù hợp, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Như vậy, ý kiến tranh luận của người bào chữa cho bị cáo V đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo V là có căn cứ chấp nhận.

Xét bị cáo H2 có nhân thân xấu, trước đó đã bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, trong khi chờ xét xử phúc thẩm, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới, điều này thể hiện thái độ xem thường pháp luật, không ăn năn, hối cải đối với hành vi phạm tội. Bị cáo trong vụ án có vai trò giúp sức tích cực nên không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình. Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo H2 được tổng hợp với hình phạt tại bản án số 71/2023/HS-PT ngày 11-10-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận để buộc bị cáo H2 phải chấp hành hình phạt chung theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

[7]. Xử lý vật chứng:

Đối với con dao tự chế thu giữ được là công cụ dùng vào việc phạm tội, quá trình điều tra xác định được đây là tài sản của anh V1, tuy nhiên anh V1 không có nhu cầu nhận lại. Xét vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với xe máy biển số 85D1 – 655.40 của H2 là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước. Tại phiên tòa bị cáo H2 tranh luận đề nghị không tịch thu là không có căn cứ bởi lẽ: quá trình điều tra đã làm rõ người đứng tên trên giấy tờ xe là bị cáo H2. Mặt khác, tại phiên tòa bị cáo không chứng minh được tài sản này là của cha mẹ bị cáo do bị cáo đứng tên dùm.

[8]. Trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu nên không xem xét.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Đối với Trần Công V1 không biết các bị cáo lấy hung khí nên không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định của pháp luật. Đối với bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị C1 đã thay mặt bị cáo C và V bồi thường thiệt hại cho bị hại và không có yêu cầu gì nên không xét đến.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: các bị cáo Đào Thanh C, Trần Anh V và Nguyễn Ngọc Hoài H2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Thanh C 30 (ba mươi ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 08/11/2023).

2. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài H2 24 (hai mươi bốn) tháng tù.

Áp dụng: Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp với hình phạt 24 tháng tù tại bản án số 71/2023/HS-PT ngày 11-10-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận, buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Hoài H2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là: 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án của bản án trước (ngày 30/10/2023).

3. Áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 17; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Anh V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 08/11/2023).

* Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy một cây dao tự chế có cán bằng tre, lưỡi dao bằng kim loại, có kích thước là dài 1,03m; cán dao dài 56cm, rộng 2,5cm, lưỡi dao dài 47 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao 8,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại rỉ xét.

Tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước phương tiện dùng vào việc phạm tội là xe mô tô biển số 85D1-665.40 nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ đen, số máy JF94E0416282, số khung RLHJF6339MZ171195.

Vật chứng đang được bảo quản tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước theo biên bản giao vật chứng lập ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các Đào Thanh C, Trần Anh V và Nguyễn Ngọc Hoài H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21/5/2024). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Công an huyện Ninh Phước;
  • - Cơ THAHS Công an huyện Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Thanh Cường và đồng phạm về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 BLHS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger