TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án: 16/2024/HS-ST Ngày 24 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Tâm.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Dũng, bà Lê Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lý – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thạnh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024.
Đối với bị cáo: Cà Văn Đ, sinh năm 1966 tại tỉnh Bắc Kạn; nơi cư trú: Buôn Y, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện nay: Buôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Cà Văn C (đã chết) và bà Thí Thị N (đã chết); bị cáo có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: không; bị bắt từ ngày 28/6/2024, (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Ngô Đình K – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; địa chỉ: Số C L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ma Thị Đ1, sinh năm 1964; địa chỉ: Buôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, (Có mặt).
Người chứng kiến: Ông Trương Xuân H, sinh năm 1974; địa chỉ: Buôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 28 tháng 6 năm 2024, Cà Văn Đ đã sử dụng xe mô tô biển số 47N1-139.66 di chuyển từ nhà đến xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng với mục đích mua ma túy để sử dụng. Tại đây, Đ đã mua một gói ma túy với giá 200.000 đồng từ một người đàn ông (danh tính chưa xác định) và cất giấu trong cốp xe trước khi quay trở về.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ đang di chuyển trên đoạn đường thuộc buôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, tổ công tác Công an huyện L đã tiến hành kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ 01 gói nylon được hàn kín bên trong có chứa 01 gói giấy bạc nghi là ma túy.
Kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận chất bột màu trắng được niêm phong là ma túy loại Heroine (tên khoa học là D), có khối lượng 0,1475 gam. Loại ma túy này được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP.
Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện L xác định giá trị của chiếc xe mô tô biển số 47N1-139.66, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, tại thời điểm ngày 28/6/2024 là 5.400.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng liên quan đến vụ án, bao gồm:
- Một gói nylon chứa chất bột màu trắng (ma túy) đã được niêm phong. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1174 gam.
- Chiếc xe mô tô biển số 47N1-139.66 cùng với giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Cà Văn Đ.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk đã truy tố bị cáo Cà Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk giữ nguyên quan điểm truy tố như trong cáo trạng. Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Cà Văn Đ từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
2
Người bào chữa cho bị cáo đồng ý với tội danh bị truy tố nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân, điều kiện phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt. Người bào chữa đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét áp dụng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc mức án thấp nhất mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Cà Văn Đ thừa nhận hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng, Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá trình điều tra và truy tố.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có bất kỳ ý kiến hoặc khiếu nại nào từ bị cáo hay các bên tham gia tố tụng khác về hành vi và quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai này phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các bằng chứng này, Hội đồng xét xử xác định: Khoảng 09 giờ ngày 28/6/2024, Cà Văn Đ đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 47N1-139.66 đi mua ma túy về sử dụng. Khi về đến đoạn đường thuộc buôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo bị tổ công tác Công an huyện Lắk bắt quả tang, thu giữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,1475 gam, loại Heroine. Từ đó, Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Cà Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
3
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[3] Bị cáo Cà Văn Đ không có tình tiết tăng nặng.
[4] Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhận thức pháp luật có phần hạn chế nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đ là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ vi phạm trật tự quản lý Nhà nước về ma túy mà còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép Heroine chỉ để sử dụng, bị cáo sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Đề nghị của người bào chữa là cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên được chấp nhận.
[8] Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân huyện L đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.
[9] Về vật chứng vụ án:
- Đối với 0,1174 gam ma túy, mẫu vật còn lại sau giám định là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 47N1–139.66 kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010504, bị cáo Đ sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy nên tuyên tịch thu để nộp vào ngân sách nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cà Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Cà Văn Đ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt, ngày 28/6/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên xử:
- Tịch thu tiêu hủy 0,1174 gam chất ma túy (Heroine) còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu (đựng trong 01 phong bì niêm phong ghi “Mẫu còn lại sau giám định vụ Cà Văn Đ – Lắk”.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước xe mô tô biển kiểm soát 47N1–139.66, nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn: Đen, bạc, số khung RLHJA3904HY786341, số máy JA39E0766519, dung tích 109cm³ và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 010504 mang tên Cà Văn Đ.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Cà Văn Đ.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Bùi Văn Tâm |
5
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cà Văn Đ tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng
