|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-ST |
Ngày: 16/4/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Hải
Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Hàng Ái Phượng
Ông Trần Minh An
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST – HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN H, sinh năm: 1991 tại Ninh Bình.
Hộ khẩu thường trú: Xóm H, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Nơi tạm trú: Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1962 và bà Phạm Thị S, sinh năm: 1968; Có vợ Vũ Thị H2, sinh năm: 1994 và 02 người con, cùng sinh năm: 2021.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 15/11/2023 bị Chủ tịch UBND huyện N xử phạt 15.000.000 đồng về hành vi không đăng ký ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền nhưng lãi suất vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Nhân thân: Ngày 26/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/01/2015.
- Ngày 18/5/2015 bị Công an huyện K, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 300.000 đồng về cử chỉ lời nói thô bạo, đe dọa người khác.
- Ngày 14/10/2016 bị Công an huyện K, tỉnh Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Gây thương tích cho người khác”
Bị cáo đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Phạm Thị Khánh V, sinh năm: 1977. (Vắng mặt)
- Trú tại: Khu phố E, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- - Chị Phạm Thị Mỹ D, sinh năm: 1997. (Vắng mặt)
- - Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm: 1968. (Vắng mặt)
- Cùng trú tại: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- - Chị Trần Thị L, sinh năm: 1982. (Vắng mặt)
- Trú tại: Thôn K, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- - Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm: 1994. (Vắng mặt)
- Trú tại: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/11/2023, Nguyễn Văn H4 đã bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay tiền nhưng lãi suất vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự. Nhưng thấy vẫn còn nhiều người muốn vay tiền nên H4 lại tiếp tục thực hiện hành vi cho vay tiền với hình thức trả góp (theo ngày), với mức lãi suất từ 0,6667% đến 1%/ngày tương đương 243,33% đến 365%/năm. Mỗi lần H4 cho vay số tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, người vay sẽ phải trả góp trong vòng 25, 29 hoặc 30 ngày. Tùy số tiền vay và số ngày trả, H4 sẽ tính toán thỏa thuận với người vay. Nếu vay 3.000.000 đồng trả góp trong vòng 25 ngày thì 01 ngày người vay phải trả 150.000 đồng, tổng số tiền gốc và lãi phải trả là 3.750.000 đồng. Vay 5.000.000 đồng trả góp trong vòng 30 ngày thì mỗi ngày người vay phải trả 200.000 đồng, tổng số tiền gốc và lãi phải trả là 6.000.000 đồng. Vay 7.000.000 đồng trả góp trong vòng 29 ngày thì mỗi ngày người vay phải trả 300.000 đồng, tổng số tiền gốc và lãi phải trả là 8.700.000 đồng. Việc cho vay tiền H4 chỉ thỏa thuận bằng miệng, không có giấy tờ, sổ sách gì. Trước khi cho vay H4 đến nhà người vay để kiểm tra và sử dụng điện thoại di động hiệu FORME, sim số 0941.190.195 và 0933167194 cùng xe mô tô biển số 35B1-823.58 để đi thu tiền góp hàng ngày của người vay.
Ngày 05/01/2024, Cơ quan điều tra phát hiện và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H4 tại Khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Tại Cơ quan điều tra, H4 đã khai nhận đã cho 05 người vay, số tiền cho vay, tiền lãi của từng người như sau:
- Chị Trần Thị L vay ngày 23/12/2023 với số tiền 7.000.000 đồng, thỏa thuận trả góp trong vòng 29 ngày, mỗi ngày trả 300.000 đồng. Chị L đã trả tiền gốc và lãi 14 ngày (trong đó 13 ngày trả 300.000 đồng/ngày và 01 ngày trả 200.000 đồng/ngày) với số tiền 4.100.000 đồng, gồm tiền gốc là 3.297.862 đồng, tiền lãi là 802.138 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 52.420 đồng, lãi suất trên 20% là 749.718 đồng.
- Chị Phạm Thị Khánh V vay ngày 23/12/2023 với số tiền 3.000.000 đồng, thỏa thuận trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 150.000 đồng. Chị V đã trả tiền gốc và lãi 13 ngày với số tiền 1.950.000 đồng, gồm tiền gốc là 1.560.000 đồng, tiền lãi là 390.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 21.370 đồng, lãi suất trên 20% là 368.630 đồng.
- Chị Nguyễn Thị H3 vay ngày 27/12/2023 với số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận trả góp trong vòng 30 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng. Chị H3 đã trả tiền gốc và lãi 09 ngày với số tiền đã trả 1.800.000 đồng, gồm tiền gốc là 1.500.000 đồng, tiền lãi là 300.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 24.658 đồng, lãi suất trên 20% là 275.342 đồng.
- Chị Phạm Thị Mỹ D vay ngày 29/12/2023 với số tiền 4.000.000 đồng, thỏa thuận trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 200.000 đồng. Chị D đã trả tiền gốc và lãi 07 ngày với số tiền 1.400.000 đồng, gồm tiền gốc là 1.120.000 đồng, tiền lãi là 280.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 15.342 đồng, lãi suất trên 20% là 264.658 đồng.
- Chị Nguyễn Thị Anh Đ vay ngày 01/01/2024 với số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận trả góp trong vòng 25 ngày, mỗi ngày trả 250.000 đồng. Chị Đ đã trả tiền gốc và lãi 04 ngày với số tiền 1.000.000 đồng, gồm tiền gốc là 800.000 đồng, tiền lãi là 200.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 10.959 đồng, lãi suất trên 20% là 189.041 đồng.
Số tiền H4 thu lợi bất chính của lần cho vay này là 749.718 đồng. Chị L đã trả 3.297.862 đồng tiền gốc vay, hiện còn chưa trả 3.702.138 đồng.
Số tiền H4 thu lợi bất chính của lần cho vay này là 368.630 đồng. Chị V đã trả 1.560.000 đồng tiền gốc vay, hiện còn chưa trả 1.440.000 đồng.
Số tiền H4 thu lợi bất chính của lần cho vay này là 275.342 đồng. Chị H3 đã trả 1.500.000 đồng tiền gốc vay, hiện còn chưa trả 3.500.000 đồng.
Số tiền H4 thu lợi bất chính của lần cho vay này là 264.658 đồng. Chị D đã trả 1.120.000 đồng tiền gốc vay, hiện còn chưa trả 2.880.000 đồng.
Số tiền H4 thu lợi bất chính của lần cho vay này là 189.041 đồng. Chị Đ đã trả 800.000 đồng tiền gốc vay, hiện còn chưa trả 4.200.000 đồng.
Những lần cho vay trên đều có bảng kê kèm theo, tổng số tiền bị cáo cho 05 người vay trên là 24.000.000 đồng. Tiền lãi bị cáo thu được là 1.972.000, trong đó lãi suất hợp pháp 20% là 125.000 đồng (làm tròn số), tiền lãi suất trên 20% là 1.847.000 đồng (làm tròn số) – đây là số tiền thu lợi bất chính. Số tiền gốc người vay đã trả cho H4 là 8.277.000 đồng (gồm chị Trần Thị L 3.297.000 đồng, chị Phạm Thị Khánh V 1.560.000 đồng, chị Nguyễn Thị H3 1.500.000 đồng, chị Phạm Thị Mỹ D 1.120.000 đồng, chị Nguyễn Thị Anh Đ 800.000 đồng). Số tiền gốc người vay chưa trả cho H4 là 15.723.000 đồng (gồm chị Trần Thị L 3.702.000 đồng, chị Phạm Thị Khánh V 1.440.000 đồng, chị Nguyễn Thị H3 3.500.000 đồng, chị Phạm Thị Mỹ D 2.880.000 đồng, chị Nguyễn Thị Anh Đ 4.200.000 đồng).
Bản Cáo trạng số: 18/CT-VKSNH ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H4 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H4 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Căn cứ khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H4 mức phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
Bị cáo H4 không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Từ ngày 23/12/2023 đến ngày 01/01/2024, trên địa bàn huyện N và thành phố P - T, bị cáo là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay tiền nhưng lãi suất vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, lại tiếp tục cho 05 người vay tổng số tiền 24.000.000 đồng với mức lãi suất từ 243,33%/năm đến 365%/năm vượt gấp 12,16 lần đến 18,25 lần mức lãi suất cao nhất quy định của Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính với tổng số tiền 1.847.000 đồng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố bị cáo Nguyễn Văn H4 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kính tế trong lĩnh vực tài chính mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức về hành vi của mình. Lẽ ra, bị cáo phải biết việc cho vay tiền với mức lãi suất quá cao so với lãi suất quy định của pháp luật là vi phạm pháp luật, làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn ngày càng khó khăn hơn về kinh tế và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nhưng vì hám lợi mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính và xét bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:
- - Đối với số tiền 24.000.000 đồng là khoản tiền mà bị cáo dùng để cho vay gồm: 8.278.000 đồng của những người vay đã trả cho bị cáo và 15.722.000 đồng của những người vay chưa trả cho bị cáo (gồm chị Trần Thị L 3.720.000 đồng, chị Phạm Thị Khánh V 1.440.000 đồng, chị Nguyễn Thị H3 3.500.000 đồng, chị Phạm Thị Mỹ D 2.880.000 đồng, chị Nguyễn Thị Anh Đ 4.200.000 đồng) và số tiền lãi tương ứng mức lãi suất từ 01% đến 20%/năm là 125.000 đồng mà bị cáo thu của những người vay. Đây là phương tiện phạm tội nên buộc bị cáo và những người vay nộp lại để sung vào Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.
- - Đối với số tiền thu lợi bất chính 1.847.000 đồng bị cáo đã thu của các chị Trần Thị L, Phạm Thị Khánh V, Nguyễn Thị H3, Phạm Thị Mỹ D, Nguyễn Thị Anh Đ. Các chị không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu FORME bên trong có 02 sim số 0941.190.195 và 0933.167.194 của bị cáo. Đây là công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.
- - Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.950.000 đồng đã thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda biển số 35B1-823.58 mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau là phù hợp.
[7] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H4 phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H4 số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
- - Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn H4 nộp lại số tiền 8.403.000 đồng (Tám triệu bốn trăm lẻ ba ngàn đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Buộc chị Trần Thị L nộp lại số tiền 3.720.000 đồng, chị Phạm Thị Khánh V nộp lại số tiền 1.440.000 đồng, chị Nguyễn Thị H3 nộp lại số tiền 3.500.000 đồng, chị Phạm Thị Mỹ D nộp lại số tiền 2.880.000 đồng, chị Nguyễn Thị Anh Đ nộp lại số tiền 4.200.000 đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu FORME bên trong có 02 sim số 0941.190.195 và 0933.167.194 theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.950.000 đồng (Năm triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) đã thu giữ của bị cáo theo ủy nhiệm chi số 88 ngày 29/3/2024 tại Kho bạc Nhà nước huyện N để đảm bảo thi hành án.
- - Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Bị cáo Nguyễn Văn H4 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoàng Hải |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Minh An Hàng Ái Phượng |
Lê Hoàng Hải |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (vụ án hình sự)
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
