Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGÂN SƠN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày: 15-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Út Lệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Ngọc Hùng

Bà Hà Kiều Diễm

- Thư ký phiên tòa:

Bà La Quỳnh Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn tham gia phiên tòa:

Ông Triệu Văn Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Thị H, (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1989 tại huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn T (đã chết) và bà Vi Thị H1, sinh năm 1947; Bị cáo có chồng là Quách Văn H2, sinh năm 1990 (hiện đã ly hôn), chưa có con. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Tô Thành L, sinh năm 1990. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.
  • + Chị Trương Thị N, sinh năm 1990. Vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng:

Anh Tô Thành V, sinh năm 1992. Có mặt tại điểm cầu trung tâm.

Cùng có địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Người tham gia tố tụng khác:

Ông Trần Văn M - Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 17/12/2023 tại đường bê tông thuộc Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện N phối hợp với Công an xã B đang làm nhiệm vụ đã phát hiện hai đối tượng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, màu trắng, biển kiểm soát 29E1-542.96 đi theo hướng từ Khu C, xã B sang thôn B, xã Đ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành làm việc đối tượng lái xe khai tên là Tô Thành V, sinh năm 1992, trú tại thôn Bản Duồi, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, tiến hành kiểm tra V không phát hiện thu giữ, tạm giữ gì. Tiến hành làm việc với đối tượng ngồi sau xe khai nhận tên là Bùi Thị H, sinh năm 1989, nơi thường trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi tạm trú: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Tiến hành kiểm tra người Hồng phát hiện thu giữ tại trong lòng bàn tay phải của Hồ N (một) gói chất màu trắng dạng cục và bột được gói bằng một lớp nilon màu hồng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu H1); T1 tại túi áo khoác đằng trước bên trái 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung (được niêm phong trong phong bì ký hiệu H2) và tạm giữ 01 (một) xe môtô nhãn hiệu PIAGGIO, màu trắng, biển kiểm soát 29E1-542.96 xe đã qua sử dụng, kèm chìa khóa xe, qua kiểm tra xe môtô không phát hiện thu giữ, tạm giữ gì liên quan đến ma túy.

Hồi 17 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, công trình phụ cận đối với Bùi Thị H tại thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn (nơi H đăng ký tạm trú). Qua khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng hồi 18 giờ 00 phút ngày 17/12/2023 xác định: Phong bì niêm phong ký hiệu H1 bên trong có 01 (một) gói nhỏ chứa chất màu trắng dạng cục và bột được gói bằng một lớp nilon màu hồng, cân riêng số chất bột màu trắng dạng cục và bột có khối lượng 0,11g (Không phẩy mười một gam) và niêm phong trong 01 phong bì mới ký hiệu B1 để gửi giám định. Còn vỏ phong bì và mảnh nilon cũ cho vào phong bì mới niêm phong ký hiệu B2.

Tại Kết luận giám định số 09/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh B Kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,11g (Không phẩy mười một gam).

Quá trình điều tra Bùi Thị H khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy, nên vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 17/12/2023, H một mình đi bộ từ chỗ trọ ở thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đi theo Quốc lộ C hướng về Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Trên đường đi, H có dùng điện thoại gọi cho một người đàn ông không rõ họ và tên, địa chỉ cụ thể ở đâu (Hồ N có số điện thoại do trước đó đã gặp và xin được số điện thoại), qua trao đổi người đàn ông đó đã hẹn H đợi ở gần cây xăng Quốc lộ C thuộc thôn C, xã B. Liên lạc xong, H ra chỗ hẹn đợi khoảng 30 phút thì người đàn ông đó đi xe môtô đến, H đưa số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), người đàn ông cầm tiền và đi xuống Khu C, xã B, khoảng 30 phút sau thì quay lại và đưa cho H 01 (một) gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, H đi bộ vào khu vực M thuộc thôn K, xã T, khi đi đến đoạn đầu đường bê tông thuộc Khu A, xã B thì gặp V đang đi xe mô tô vào hướng Khu AB, xã B, thì H xin đi nhờ xe. Trên đường đi khi đến đoạn đường bê tông thuộc Khu C, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKSNS, ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố bị cáo Bùi Thị H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử lý bị cáo như sau:

* Về trách nhiệm hình sự:

  • - Về hình phạt chính: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Bùi Thị H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/12/2023.
  • - Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy (H) hoàn lại sau khi giám định, nilon gói cũ, phong bì niêm phong cũ có trong các phong bì niêm phong ký hiệu T09, B2; Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại tạm giữ của bị cáo có trong phong bì ký hiệu P1; Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Thành L, chị Trương Thị N 01 xe môtô kèm chìa khóa, 01 giấy bán xe, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe.

* Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn đã truy tố và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên; Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận. Lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và ý kiến trong hồ sơ. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Xét thấy người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị H khai nhận: Do nghiện ma túy nên ngày 17/12/2023, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 (một) gói ma túy (Heroine) có tổng khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam) trên người mục đích sử dụng cho bản thân và đã bị tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang, tiến hành thu giữ toàn bộ tang vật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 30 phút, ngày 17/12/2023; biên bản khám xét lập hồi 17 giờ 00 phút ngày 17/12/2023; biên bản mở đóng niêm phong, cân xác định khối lượng chất màu trắng nghi là chất ma túy và gửi mẫu giám định ngày 17/12/2023; phù hợp với Kết luận giám định số 10/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; phù hợp với các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận tại phiên tòa không có mâu thuẫn, không làm phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Vì vậy, có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của Bùi Thị H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều luật có nội dung:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
    • c) Heroine........ có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
  2. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”

[3] Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng do ý thức coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng đạo đức, lối sống, bị cáo đã nghiện ma túy và đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,11 gam (không phẩy mười một gam) ma túy (Heroine).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông, buôn bán ma túy, là nguyên nhân làm lây lan, phát sinh nhiều tệ nạn nguy hiểm xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác. Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân Sơn quyết định truy tố bị cáo trước Tòa án để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định của pháp luật, đúng với diễn biến khách quan của vụ án, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Từ những nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Đề nghị mức hình phạt của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm, thu nhập ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng.

[6] Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Số ma túy (Heroine) hoàn lại sau khi giám định, nilon gói cũ và phong bì niêm phong cũ là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động bị tạm giữ là tài sản của bị cáo, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô bị tạm giữ kèm chìa khóa, giấy bán xe, chứng nhận đăng ký xe bị tạm giữ, qua điều tra và tại phiên tòa xác định được đây là tài sản chung của anh Tô Thành L và chị Trương Thị N (là vợ chồng anh trai Tô Thành V). Anh L, chị N đều không biết việc anh Văn mượn xe đi chở bị cáo khi có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Anh L, chị N đề nghị được trả lại chiếc xe nên cần trả lại cho anh L, chị N.

[7] Các vấn đề liên quan trong vụ án:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Kết thúc điều tra không xác định được nhân thân, lý lịch, địa chỉ của người đàn ông này, nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Tô Thành V là người cho bị cáo đi nhờ xe, trong quá trình đi nhờ xe anh V không biết bị cáo tàng trữ ma túy trên người nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với anh V là có căn cứ.

Đối với anh Tô Thành L và chị Trương Thị N không biết việc ngày 17/12/2023, anh V có mượn và sử dụng xe mô tô, trên đường về có cho bị cáo đi nhờ xe và bị cáo có mang theo ma túy. Nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

Xử phạt bị cáo 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 17/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

2.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T09, mặt trước phong bì có ghi: Mẫu hoàn trả vụ: Bùi Thị H, sinh năm 1989, nơi thường trú: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện tại: Thôn P, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
  • - 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì có ghi: Nilon gói cũ thu giữ của Bùi Thị H và phong bì niêm phong cũ đã ký hiệu H1 được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu B2.

2.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách nhà nước:

Điện thoại tạm giữ của Bùi Thị H đã kiểm tra và phong bì niêm phong cũ đã ký hiệu H2 được cho vào phong bì niêm phong ký hiệu P1.

2.3. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Tô Thành L, sinh năm 1990 và chị Trương Thị N, sinh năm 1990 - Cùng có địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, màu sơn: trắng, biển số đăng ký: 29E1-542.96, số khung: RP8M73100CV102458, số máy: M731M4037234, xe đã qua sử dụng kèm 01 (một) chìa khóa xe môtô.
  • - 01 (một) giấy bán xe, tên người bán: Nguyễn Duy P, loại xe: Nhãn hiệu PIAGGIO, biển số: 29E1-542.96, màu sơn: trắng, tên người mua: Trương Thị N, giấy bán xe đề ngày 13/01/2023.
  • - 01 (một) chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 055179, tên chủ xe: Nguyễn Đức D; Biển số đăng ký: 29E1-542.96, cấp ngày 13/5/2013 do Công an Quận Đ, thành phố Hà Nội cấp.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngân Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười năm ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Út Lệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger