|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:16/2024/HS-ST Ngày: 12-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Sầm Văn Chiến;
Bà Đào Thị Thường.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Ngô Văn N, sinh năm 1975 tại thị xã N, tỉnh Y; nơi cư trú tổ 3, phường T, thị xã N, tỉnh Y; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) 10/12; dân tộc Kinh; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Ngô Văn V (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (đã chết); vợ Trần Thị N và 02 con; tiền sự ngày 25/01/2022 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định số 10/2022/QĐ-TA, ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, ngày 09/02/2023 chấp hành xong; tiền án không; bị tạm giữ từ ngày 17 tháng 01 năm 2024, tạm giam từ ngày 20 tháng 01 năm 2024; "Có mặt".
Người tham gia tố tụng khác
+ Người làm chứng:
Hà Văn T, sinh năm 1992; nơi cư trú tổ bản N, phường P, thị xã N, tỉnh Y; "Vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 17/01/2024, Ngô Văn N đi đến đoạn đường bê tông thuộc địa phận xã Pá Lau, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; qua trao đổi Ngô Văn N đã mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine, với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Heroine N đi về nhà, lấy một phần Heroine ra để sử dụng, phần còn lại N chia thành hai và gói lại bằng giấy màu trắng, mục đích để sử dụng và bán. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, tại xưởng gỗ của Ngô Văn N thuộc tổ 3, phường C, thị xã N khi N vừa nhận 100.000 đồng, chuẩn bị lấy gói Heroine ra đưa cho Hà Văn T thì bị Công an bắt quả tang cùng hai gói Heroine và các vật chứng khác.
Tại bản kết luận giám định số: 72/KL-KTHS ngày 26/01/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:
Chất bột nén màu trắng thu giữ của Ngô Văn N giao nộp có tổng khối lượng là: 0,19 (không phảy mười chín) gam; 0,09 gam trích ra từ 0,19 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 13/CT-VKS-NL ngày 12 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố bị cáo Ngô Văn N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mua bán ma túy mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Văn N từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
- Vật chứng và tài sản bị tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1 (không phảy một) gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định, đã được niêm phong; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh giấy trắng có dòng kẻ;
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của Ngô Văn N 100.000 (một trăm nghìn) đồng;
+ Trả lại Ngô Văn N 580.000 (năm trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Án phí, quyền kháng cáo: Đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Do là người nghiện, nên Ngô Văn N đã mua ma túy, loại Heroine về sử dụng và bán. Cụ thể: Khoảng 13 giờ ngày 17/01/2024, tại xưởng gỗ của Ngô Văn N thuộc tổ 3, phường C, thị xã N; khi N vừa nhận 100.000 đồng, chuẩn bị lấy gói Heroine ra đưa cho Hà Văn T thì bị Công an bắt quả tang; N giao nộp hai gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,19 gam.
Bị cáo Ngô Văn N là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép Heroine (ma túy) là vi phạm pháp luật hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy bất hợp pháp của bản thân và thu lời bất chính.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo N thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, lan tràn tình trạng nghiện chất ma túy; ảnh hưởng đên sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại trật tự an toàn xã hội.
[3] Từ những căn cứ trên đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Ngô Văn N thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[4] Nhân thân: Bị cáo N có 01 tiền sự và là người nghiện ma túy, nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N đã thành khẩn khai báo; mẹ đẻ bị cáo là bà Nguyễn Thị S được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo N gây ra cho xã hội là lớn; nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[7] Hình phạt bổ sung: Bị cáo N không có tài sản có giá trị lớn; khi phạm tội bị cáo cũng chưa thu được lợi nhuận, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Vật chứng và tài sản bị tạm giữ:
- Đối với: 0,1 (không phảy một) gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với số tiền 680.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo N. Trong đó có 100.000 đồng N nhận của T để bán ma túy cho T, đây là tiền do phạm tội mà có nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền còn lại là 580.000 đồng, không liên quan đến tội phạm, nên cần căn cứ quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để trả lại bị cáo N.
- 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh giấy có dòng kẻ. Vỏ phong bì Cơ quan Công an đã dùng để niêm phong vật chứng, không có giá trị sử dụng, nên tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; các mảnh giấy có dòng kẻ bị cáo sử dụng để làm công cụ phạm tội, nên tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Án phí và các vấn đề khác:
Bị cáo N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với Hà Văn T là người nghiện chất ma tuý, đã có hành vi đưa tiền để mua ma túy của N, nhưng chưa mua được thì bị bắt; ngày16/02/2024, Công an thị xã Nghĩa Lộ đã đưa T vào cơ sở cai nghiện, theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số: 06/QĐ-TA, ngày 23/01/2024 của Tòa án thị xã Nghĩa Lộ, nên không xử lý đối với T trong vụ án.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo N tại khu vực xã Pá Lau, huyện Trạm Tấu. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn N 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, là ngày 17/01/2024.
3. Vật chứng và tài sản bị tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy: 0,1 (không phảy một) gam ma túy, loại Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định để trong 01 phong bì thư do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành, đã được niêm phong; 02 (hai) vỏ phong bì đã mở niêm phong và các mảnh giấy trắng có dòng kẻ;
+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của Ngô Văn N 100.000 (một trăm nghìn) đồng;
+ Trả lại Ngô Văn N 580.000 (năm trăm tám mươi nghìn) đồng.
(đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 15-4-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Ngô Văn N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do là người nghiện, nên Ngô Văn N đã mua ma túy, loại Heroine về sử dụng và bán. Cụ thể: Khoảng 13 giờ ngày 17/01/2024, tại xưởng gỗ của Ngô Văn N thuộc tổ 3, phường C, thị xã N; khi N vừa nhận 100.000 đồng, chuẩn bị lấy gói Heroine ra đưa cho Hà Văn T thì bị Công an bắt quả tang; N giao nộp hai gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,19 gam.
