|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-ST Ngày: 07/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Biểu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Phước Phi
Ông Ngô Tấn Huy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tín là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Ly T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ. Sinh ngày: 10/10/1987, tại: Huyện V, Bình Định. Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc. Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Nguyễn Thành T1, sinh năm 1936. Họ tên mẹ: Cao Thị M, sinh năm 1938 (đã chết). Chồng: Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Thị Ly T bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 17/8/2023 đến nay – có mặt.
- Bị hại: Bà Đinh Thị T2 – sinh năm: 1985, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Ly T: Bà Nguyễn Thị Hồng T3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – có mặt.
- Những người làm chứng:
- Bà Trần Thị L – sinh năm: 1974, địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
- Chị Nguyễn Thị N – sinh năm: 1992, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
- Chị Nguyễn Thị B – sinh năm: 1991, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – vắng mặt không lý do.
- Anh Nguyễn Ngọc T4 – sinh năm: 1988, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 05 phút, ngày 25/4/2023, bà Đinh Thị T2, sinh năm 1985 ở thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định cho rằng Nguyễn Thị Ly T có quan hệ bất chính với chồng của mình nên Thân đã đăng lên Facebook những ngôn từ nhằm mục đích xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của T. Đến khoảng 19 giờ 15 phút, cùng ngày chị Trần Thị N1 đọc được những ngôn từ trên nên đã gọi điện thoại và kể cho T toàn bộ sự việc. Tô yêu cầu N1 chụp ảnh lại những nội dung đó, sau đó T nhờ N1 chở qua nhà T2 để hỏi rõ sự việc vì sao T2 nói xấu mình trên Facebook. Khi đến đoạn ngã ba đường vào thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định thì gặp Nguyễn Thị B, nên T rủ B cùng đi đến nhà T2 luôn.
Khi đến nhà T2, lúc này khoảng 20 giờ 05 phút cùng ngày, T gặp bà Trần Thị L (là chị chồng của T2), T hỏi “Chị 5 (L) có chị T2 ở nhà không” L trả lời “có em, nó ở nhà dưới (nhà sau) có chuyện gì thì vào nhà nói chuyện”. Sau đó, T2 nghe ở phía nhà trên có người hỏi mình nên từ nhà sau đi lên (trên tay T2 có cầm 01 chiếc điện thoại) đứng từ trong nhà nói ra “mầy (Tô) qua đây làm gì”, T trả lời “chị (T2) đi ra đây tôi nói chuyện chút”. Lúc này giữa T2 và Tô kình cãi, chửi bới về việc T2 đăng Facebook xúc phạm, nói xấu Tô dẫn đến cả hai xông vào đánh nhau. Lúc đầu thì hai người đánh bằng tay qua lại, sau đó T dùng mũ bảo hiểm của mình đánh vào vùng đầu T2. Trong quá trình đánh nhau, T2 đánh rơi 01 chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu OPPO A57 màu xanh xuống sân, T thấy được thì lấy điện thoại bỏ đi nên Thân chạy theo đến gần cổng (ngõ) ra vào nhà, giật tóc của T lại, nhưng sau đó thả ra và nói “mầy trả lại điện thoại cho tao” Tô nói “tao không trả mầy làm gì được tao” rồi lên xe máy chị N1 chở đi.
Hậu quả: Bà T2 bị thương tích vùng mặt, vùng đầu đi điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh và mất điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu OPPO A57 màu xanh. Tô bị thương tích nhẹ ở gò má phía bên phải, không đi điều trị thương tích.
(Bút lục số: 102-118; 125-136; 145-159; 162-163; 166-172)
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 196/KLTTCT-PYBĐ ngày 04/7/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh B kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đinh Thị T2 tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm). (Bút lục số: 41-42)
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS, ngày 18/5/2023 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện V kết luận giá trị của 01 (một) điện thoại di động thông minh, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh, số IMEI1: 8869945066838497, số IMEI2: 8869945066838489 là: 3.960.000 đồng (ba triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng). (Bút lục số: 61-62)
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Nguyên nhân dẫn đến Nguyễn Thị Ly T đánh gây thương tích cho Đinh Thị T2 là do trước đó bà T2 đã đang Facebook xúc phạm danh dự, nhân phẩm của T nên T phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Quá trình điều tra Nguyễn Thị Ly T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về vật chứng thu giữ:
- 01 máy điện thoại thông minh, màn hình cảm ứng hiệu OPPO A57, màu xanh mà T đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
Do xác định chiếc điện thoại này không liên quan đến vụ án nên ngày 17/8/2023 cơ quan CSĐT công an huyện V đã ra quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 05/QĐ-CSĐT, trả lại chiếc điện thoại trên cho Nguyễn Thị Ly T.
- 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ đội bảo vệ nửa đầu; trên mũ có gắn 01 mắt kính màu tím, viền bằng kim loại được gắn vào mũ bảo hiểm bằng 01 dây thun màu đen, mũ bảo hiểm đã qua sử dụng.
- 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, mặt phía sau có ghi chữ “OPPO”, số IMEI1: 8869945066838497, số IMEI2: 8869945066838489, điện thoại không có gắn thẻ sim.
(Bút lục số: 46-56; 83-85)
Về dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị hại Đinh Thị T2 và bị cáo Nguyễn Thị Ly T theo Văn bản thỏa thuận bồi thường ngày 22/02/2024; bị hại T2 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đề nghị:
Rút Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì lý do: Bị hại bà Đinh Thị T2 có đơn đề nghị Rút yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích”.
Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cướp giật tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm b, e, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ly T từ 12 – 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa bị hại Đinh Thị T2 và bị cáo Nguyễn Thị Ly T theo Văn bản thỏa thuận bồi thường ngày 22/02/2024; bị hại T2 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị tuyên trả lại 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, mặt phía sau có ghi chữ "OPPO", số IMEII: SS69945066838497, số IMEI2: 8869945066838489, điện thoại không có gắn thẻ sim cho chủ sở hữu hợp pháp là Đinh Thị T2.
Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ đội bảo vệ nửa đầu, trên mũ có gắn 01 mắt kính màu tím, viễn bằng kim loại được gắn vào mũ bảo hiểm bằng 01 dây thun màu đen, mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, đây là công cụ phạm tội.
Ý kiến người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về phần dân sự và xử lý vật chứng; Về phần hình sự: Thống nhất theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc rút Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, về tội “Cướp giật tài sản” thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên bị cáo Nguyễn Thị Ly T không phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Ý kiến của bị cáo: Thống nhất theo ý kiến bào chữa của trợ giúp viên pháp lý.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
[2.1] Vào khoảng 20 giờ 05 phút, ngày 25/4/2023, tại thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định do bức xúc việc Đinh Thị T2 đăng Facebook xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của Nguyễn Thị Ly T nên T đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm bằng nhựa cứng đánh vào vùng đầu của T2 gây thương tích với tỷ lệ 03% (ba phần trăm) và có hành vi lấy 01 (một) chiếc điện thoại di động, màn hình cảm ứng hiệu OPPO A57 màu xanh do Đinh Thị T2 làm rơi khi đánh nhau một cách công khai, nhanh chóng tẩu thoát.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Ly T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị hại Đinh Thị T2 có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích” và Đại diện Viện kiểm sát đề nghị rút Quyết định truy tố bị cáo T về tội “cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Việc đơn yêu cầu của bị hại T2 là hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc hay cưỡng bức gì, nên Hội đồng xét xử đình chỉ một phần vụ án đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 282 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2.2] Mặt khác, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là không có căn cứ. Bởi lẽ, qua việc cãi vã đánh nhau thì chị T2 có đánh rơi điện thoại, nên bị cáo T lấy điện thoại chị T2 cho bỏ ghét sau đó, bị cáo T đi ra ngoài cổng, chị T2 lại đuổi theo đánh bị cáo T, tiếp đó bị cáo T đi ra đến xe máy có chị N1 đang chờ, bị cáo T có cầm điện thoại trên tay nên chị T2 có thấy và nói “Trả điện thoại cho T5”, bị cáo T đang ngồi trên xe thì chị T2 kéo tóc bị cáo T, bị cáo T có nghe chị N1 nói “Tao không trả làm gì tao”, sau đó chị N1 đề xe nổ máy chở T về nhà; Hơn nữa về mặt chủ quan, đặc biệt là mục đích của bị cáo T đến nhà T2 không phải để chiếm đoạt điện thoại di động của chị T2 mà việc T lấy điện thoại của T2 là bộc phát, chủ ý cho bỏ tức làm rõ mục đích Thân đăng F có lời lẽ xúc phạm mình. Từ hành vi đến mục đích của bị cáo T là phù hợp lôgic tâm lý và đúng thực tế vụ việc. Nhận định của Đại diện Viện kiểm sát huyện V về phần này là chủ quan, không sát thực tế và bản chất của vụ án, chưa phù hợp với quy định của pháp luật hình sự. Vì vậy, các hành vi nêu trên của bị cáo T chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” như Cáo trạng đã truy tố.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán phụ trách vụ án đã ra Quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung 01 (một) lần và tại phiên tòa ngày 22/02/2024, Hội đồng xét xử ra Quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung (lần 02), yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh điều tra bổ sung “Cần xem xét lại việc truy tố Nguyễn Thị Ly T về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung 2017). Bởi lẽ, căn cứ vào 04 yếu tố cấu thành tội này, thì yếu tố về mặt khách quan đặc biệt về “mặt chủ quan” của bị cáo T là không đáp ứng...”. Qua 02 lần trả hồ sơ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh không chấp nhận yêu cầu điều tra bổ sung, giữ nguyên quan điểm truy tố ban đầu bằng Cáo trạng nêu trên. Do vậy, căn cứ vào “giới hạn của việc xét xử” tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án và cân nhắc đưa ra một mức án phù hợp với việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly T nhằm mục đích giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[4]. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Nguyễn Thị Ly T trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong các tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại các điểm b, e, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại về việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm đối với bị hại Đinh Thị T2 với tổng số tiền là 7.379.408 đồng; bị cáo đã giao đủ số tiền trên cho bị hại T2 vào ngày 22/02/2024, bị hại T2 không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại là phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Xét 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, mặt phía sau có ghi chữ "OPPO", số IMEII: SS69945066838497, số IMEI2: 8869945066838489, điện thoại không có gắn thẻ sim không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên tuyên trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Đinh Thị T2 là phù hợp với Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Xét 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ đội bảo vệ nửa đầu, trên mũ có gắn 01 mắt kính màu tím, viễn bằng kim loại được gắn vào mũ bảo hiểm bằng 01 dây thun màu đen, mũ bảo hiểm đã qua sử dụng, đây là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[7]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ly T là người bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình năm 2015 và điểm đ, khoản 1, Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nhưng bị cáo Nguyễn Thị Ly T được miễn nộp vì thuộc diện hộ nghèo năm 2024.
[8]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cướp giật tài sản” là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5, Điều 171; Điều 65; điểm b, e, s khoản 1, Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ Luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ khoản 1 Điều 298; khoản 2 Điều 155, Điều 282, 299, 326; Điểm a khoản 2, điểm b khoản 3, Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng hình năm 2015;
Căn cứ Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử một phần vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo Nguyễn Thị Ly T về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về tội danh:
2.1 Tuyên bố: Nguyễn Thị Ly T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ly T 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Ly T cho UBND xã V, huyện V, tỉnh Bình Định phối hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.Trong trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2.3 Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Ly T số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị Ly T và bị hại Đinh Thị T2 đã tự thỏa thuận giải quyết xong và không yêu cầu hay đề nghị gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về xử lý vật chứng:
Tuyên trả lại 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, mặt phía sau có ghi chữ “OPPO”, số IMEI1: SS69945066838497, số IMEI2: 8869945066838489, điện thoại không có gắn thẻ sim cho chủ sở hữu hợp pháp là Đinh Thị T2.
Tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen, loại mũ đội bảo vệ nửa đầu, trên mũ có gắn 01 mắt kính màu tím, viễn bằng kim loại được gắn vào mũ bảo hiểm bằng 01 dây thun màu đen, mũ bảo hiểm đã qua sử dụng.
(Tất cả các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 15/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Ly T được miễn nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vì thuộc diện hộ nghèo năm 2024.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
6.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
6.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Quốc Biểu |
Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 16/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ly T phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 BLHS
