Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY NAM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 16/2024/HS-ST

Ngày 06/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Phạm Văn Nam;

Bà Trần Thị Sẩm .

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Nhật Trường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Ngọc Tùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS, ngày tháng 03 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Quang V

sinh ngày 29 tháng 4 năm 1999 tại tỉnh Bến Tre;

Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre;

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: không nghề;

Trình độ học vấn: 8/12;

Con ông Nguyễn Thanh V1, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Hồng N, sinh năm 1979; cùng đăng ký thường trú: ấp H, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre;

Bản thân bị cáo chưa có vợ.

Tiền án: Có 01 tiền án. Ngày 10 tháng 12 năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/02/2023, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 26 tháng 6 năm 2023, bị Công an xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T, tỉnh Bến Tre để điều tra về hành vi vi phạm pháp luật khác từ ngày 13/9/2023 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Bà Giáp Thị Ngọc Y, sinh năm 1981; Địa chỉ cư trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, có mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1986; Địa chỉ cư trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền sử dụng ma tuý, Nguyễn Quang V nảy sinh ý định sử dụng xe mô tô đến các tiệm tạp hoá giả vờ mua bia, sau khi nhận được bia, lợi dụng sự sơ hở của chủ tiệm sẽ điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát để chiếm đoạt bán lấy tiền.

Khoảng 16 giờ, ngày 12 tháng 9 năm 2023, V điều khiển xe mô tô biển số 71B4 – 632.98 của cha ruột mình là ông Nguyễn Thanh V1 trên tuyến Quốc lộ E, hướng từ thị trấn M đi thị trấn T. Đến tiệm tạp hoá “ Ngọc Yến” của bà Giáp Thị Ngọc Y, sinh năm 1981, thuộc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, V hỏi mua 05 thùng bia Tiger, loại bia 24 lon với giá 365.000 đồng một thùng.

Khi bà Y mang bia để lên xe cho V được 04 thùng và trở vào tiếp tục lấy bia thì V khởi động máy xe nhanh chóng tẩu thoát về hướng thị trấn M, mang 04 thùng bia chiếm đoạt được đến bán cho tiệm tạp hoá của chị Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1981, ở ấp A, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre với giá 1.000.000 đồng. Đến ngày 21/9/2023, bà Y đến Công an xã T trình báo sự việc. Bốn thùng bia nêu trên không thu hồi được do chị H đã bán cho khách không rõ là ai.

Cũng với thủ đoạn như trên, khoảng 18 giờ cùng ngày, V tiếp tục điều khiển xe mô tô nêu trên đi đến Huyện L hướng từ Quốc lộ E đi ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre. Khi đến cửa hàng “B” do bà Nguyễn Thị Yến L, sinh năm 1986, ở ấp P, xã B, huyện M làm chủ, V cũng giả vờ hỏi mua 04 thùng bia Tiger, loại bia 24 lon với giá 350.000 đồng một thùng. Bà L để lên xe cho V được 03 thùng, khi bà L đi vào bên trong mang thùng bia thứ 04 thì V khởi động máy xe tẩu thoát về hướng xã P, huyện M bán 03 thùng bia cho tiệm tạp hoá của bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979, ở ấp T, xã P, huyện M với giá 900.000 đồng. Số bia trên bà L1 đã bán lại cho khách, không thu hồi được.

Vật chứng thu giữ gồm: Một xe mô tô biển số 71B4 -632.98, nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu đỏ - đen – bạc, số khung RLHKC3710MY119125, số máy KC34E1243277 do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 29/KL-HĐĐGTS, ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 04 thùng bia, nhãn hiệu Tiger(loại Lager beer), loại thùng giấy 24 lon, dung tích mỗi lon 330ml(chưa qua sử dụng) mà bị can Nguyễn Quang V chiếm đoạt của bà Giáp Thị Ngọc Y vào ngày 12/9/2023 có tổng giá trị là 1.400.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 32/KL-HĐĐGTS, ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 03 thùng bia, nhãn hiệu Tiger(loại Lager beer), loại thùng giấy 24 lon, dung tích mỗi lon 330ml(chưa qua sử dụng) mà bị can Nguyễn Quang V chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Yến L vào ngày 12/9/2023 có tổng giá trị là 1.050.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại.

Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSMCN, ngày 07/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đã quyết định truy tố Nguyễn Quang V ra trước Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam để xét xử về tội: “Cướp giật tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Quang V giữ nguyên lời khai như trong quá trình điều tra, truy tố và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam khẳng định việc truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội: “ Cướp giật tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội: “ Cướp giật tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 171, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; các điểm g, h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V từ 02(hai) năm đến 02 (hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 589 của Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo bồi thường cho bà Y 1.400.000 đồng và bồi thường cho bà L 1.050.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Mai H và bà Nguyễn Thị L1 mua bia do bị cáo Nguyễn Quang V bán nhưng do cả hai không biết việc tài sản do Nguyễn Quang V cướp giật mà có nên không bị xử lý.

Ông Nguyễn Thanh V1 là chủ hợp pháp xe mô tô biển số 71B4 - 632.98 không biết việc V sử dụng xe mô tô làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày N1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Quang V không có khiếu nại gì đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử có giá trị chứng minh.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Quang V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với Bản kết luận điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, phù hợp với lời khai của người bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong quá trình điều tra. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Với động cơ tư lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác bán để có tiền tiêu xài nên vào ngày 12 tháng 9 năm 2023, bị cáo Nguyễn Quang V đã liên tiếp thực hiện hai vụ cướp giật tài sản của bị hại Giáp Thị Ngọc Y ở ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre 04 thùng bia có giá trị 1.400.000 đồng và sau đó cướp giật của bà Nguyễn Thị Yến L ở ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre 03 thùng bia có giá trị 1.050.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 2.450.000 đồng.

[3] Hành vi cướp giật, chiếm đoạt tài sản của các bị hại do bị cáo Nguyễn Quang V thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Luật hình sự, không những trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị xử lý mà vẫn cố ý thực hiện. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt của các bị hại là 2.450.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội: “ Cướp giật tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Nam truy tố bị cáo về tội danh và viện dẫn các điều, khoản luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Khi nghị án để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo Nguyễn Quang V là người có nhân thân xấu, đã có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và một tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” nhưng không biết cải sửa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội với tính chất và mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn, tái phạm và thực hiện tội phạm nhiều lần nên cần áp dụng các điểm g, h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự để xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải và tự nguyện đồng ý bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại; tại phiên toà sơ thẩm, bị hại Giáp Thị Ngọc Y xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần áp dụng điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, các bị hại Giáp Thị Ngọc Y và Nguyễn Thị Yến L đều có yêu cầu bị cáo Nguyễn Quang V bồi thường thiệt hại theo kết quả định giá mà Hội đồng định giá đã xác định.

Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Quang V đồng ý bồi thường cho bà Giáp Thị Ngọc Y số tiền 1.400.000 đồng và bồi thường cho bà Nguyễn Thị Yến L số tiền 1.050.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng:

Ghi nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Thanh V1 một xe mô tô biển số 71B4 -632.98, nhãn hiệu Honda, số loại Winner X, màu đỏ - đen – bạc, số khung RLHKC3710MY119125, số máy KC34E1243277 theo Quyết định xử lý vật chứng số: 80, ngày 06 tháng 02 năm 2024 là đúng thẩm quyền và phù hợp với quy định tại Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Quang V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Khoản 1 Điều 21 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hộ quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Quang V phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

[9] Xét thấy quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày N1 tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội: “ Cướp giật tài sản”. Áp dụng Khoản 1 Điều 171, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; các điểm g, h Khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 02(hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự và các điều 585, 586 và 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Quang V bồi thường cho:
    • - Bà Giáp Thị Ngọc Y, số tiền 1.400.000(một triệu bốn trăm nghìn) đồng;
    • - Bà Nguyễn Thị Yến L, số tiền 1.050.000(một triệu không trăm năm mươi nghìn) đồng.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành án thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Quang V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000(hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000(ba trăm nghìn) đồng sung vào Ngân sách Nhà nước theo quy định tại Khoản 1 Điều 21, Điểm a Khoản 1 Điều 23 và Khoản 1 Điều 24 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  5. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có mặt có quyền làm đơn kháng cáo Bản án; bị hại vắng mặt được quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán – Chủ toạ phiên toà
Phạm Văn N2 – T

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Nam (2b);
  • - CA huyện Mỏ Cày Nam (3b);
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng (3b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Lưu H. sơ, V. phòng, THA (4b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Chí Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 16/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY NAM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger