|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HS-PT Ngày: 16/9/2024 |
Bắc Kạn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng
Các Thẩm phán: Ông Hà Quang Huy và Ông Nguyễn Thế Doanh
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 28/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lý Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số:19/2024/HS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
* Bị cáo có kháng cáo:
LÝ THỊ HIẾN
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 20 tháng 9 năm 1964 tại: Thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; chỗ ở hiện nay: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí; trình độ học vấn:12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn N (Đã chết) và bà Hoàng Thị N1; bị cáo có chồng Hoàng Văn T và 02 con (01 con đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (Có mặt).
* Bị hại:
- Ông Lý Văn D, sinh năm 1976 (Có mặt);
- Bà Nông Thị N2, sinh năm 1979 (Vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền cho bị hại Nông Thị N2: Ông Lý Văn D, sinh năm 1976 (Có mặt);
Địa chỉ: Cùng tổ nhân dân C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở hiện nay: Cùng trú tại tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng thương mại cổ phần Đ;
Địa chỉ: T, C H, quận H, thành phố Hà Nội.
2
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Anh T1. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, "Vắng mặt";
Người đại diện theo ủy quyền là ông Hà Văn T2 – Cán bộ Phòng Quản lý rủi ro - Ngân hàng thương mại cổ phần Đ chi nhánh tỉnh B "Vắng mặt";
Địa chỉ: Tổ H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
- Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1964 (Có mặt);
Trú tại: Thôn B, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ở hiện nay: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Ông Hoàng Tiến D1, sinh năm 1990 (Vắng mặt);
Trú tại: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Ông Lô Văn T3, sinh năm 1982 (Có mặt);
Trú tại: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn,
* Người làm chứng:
- Ông Lý Văn T4, sinh năm 1983, (Vắng mặt);
Trú tại: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Ông Hà Văn C, sinh năm 1980, " Vắng mặt";
Trú tại: Tổ A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/02/2013 Lý Thị H, ký kết Hợp đồng tín dụng số 01/2013/HĐ với Ngân hàng TMCP Đ (B) - Chi nhánh B, để vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 11 tháng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay tại Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/2013/HĐ, ngày 31/01/2013 là quyền sử dụng đất (Sau đây viết tắt: QSDĐ) của các thửa đất số 64, 120, 156 cùng tờ bản đồ số 36; thửa đất số 127 tờ bản đồ số 39; các thửa đất số 275 và 280 cùng tờ bản đồ số 40, địa chỉ các thửa đất tại: Thôn B, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số N 832789 ngày 05/9/2000 cho hộ ông Hoàng Văn T; QSDĐ của các thửa đất số 9, 27, 64, 110 cùng tờ bản đồ số 7, địa chỉ các thửa đất tại: Đ, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã được UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số BA 825379 ngày 20/01/2012 cho Lý Thị H;
Năm 2013, UBND huyện N thực hiện dự án Xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính, cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ tại thị trấn Y, huyện N. Hộ gia đình Lý Thị H thuộc 73 trường hợp hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện cấp đổi GCNQSDĐ. Ngày 12/8/2013, Lý Thị H đã ký xác nhận vào 03 đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ đối với các thửa đất số 9, 64, 110 cùng tờ bản đồ số 7 mà Lý Thị H đã được GCNQSDĐ số BA 825379 và nộp cho cán bộ địa chính thị trấn Y, huyện N để làm thủ tục cấp đổi GCNQSDĐ. Ngày 01/11/2013 UBND huyện N ban hành Quyết định số 691/QĐ-UBND về việc phê duyệt cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ,
3
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thị trấn Y. Lý Thị H được cấp đổi 03 GCNQSDĐ, gồm:
- Thửa đất số 9 tờ bản đồ số 7 chuyển thành thửa đất số 148 tờ bản đồ số 5 theo GCNQSDĐ số BS038667.
- Thửa đất số 64 tờ bản đồ số 7 chuyển thành thửa đất số 31 tờ bản đồ số 9 theo GCNQSDĐ số BS038669.
- Thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 chuyển thành thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 theo GCNQSDĐ số BS038668.
Sau khi hoàn thành việc cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ cho các hộ dân đủ điều kiện, ngày 05/8/2014 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất đã giao toàn bộ các GCNQSDĐ cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện N để giao cho các hộ dân (Tại Biên bản bàn giao này có ghi rõ lưu ý khi trao GCNQSDĐ mới thì buộc phải thu hồi GCNQSDĐ cũ). Ngày 23/12/2014, Lý Thị H đến UBND thị trấn Y, huyện N để nhận 03 GCNQSDĐ trên và đã được ông Hoàng Tiến D1 là công chức địa chính công tác tại UBND thị trấn Y, huyện N giao cho các GCNQSDĐ số BS 038667, BS 038668 và BS 038669 nhưng không thu hồi GCNQSDĐ cũ số BA 825379, trong khi đó GCNQSDĐ số BA 825379 vẫn đang thế chấp tại Chi nhánh ngân hàng BIDV tỉnh B. Sau khi nhận 03 GCNQSDĐ nêu trên, Lý Thị H không nộp lại 03 GCNQSDĐ được cấp đổi này cho Chi nhánh Ngân hàng BIDV tỉnh B.
Ngày 26/11/2014 Lý Thị H tiếp tục có 03 đơn xin cấp GCNQSDĐ (Cấp mới) đối với các thửa đất gồm:
- Thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5 (Thửa đất này chính là thửa đất số 27 tờ bản đồ số 7 nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379), địa chỉ thửa đất thuộc tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Thửa đất số 170 tờ bản đồ số 10, địa chỉ tại tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Thửa đất số 411, tờ bản đồ số 9, địa chỉ tại tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Trong các thửa đất Lý Thị H kê khai xin cấp GCNQSDĐ nêu trên, thì có thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5 chính là thửa đất số 27 tờ bản đồ số 7 nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379 nên theo quy định thửa đất này thuộc trường hợp cấp đổi GCNQSDĐ. Tuy nhiên ông Hoàng Tiến D1 khi đó không phát hiện việc thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5 đã có GCNQSDĐ mà vẫn hướng dẫn Lý Thị H làm thủ tục theo đơn xin cấp mới GCNQSDĐ. Sau đó 03 hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ nêu trên được chuyển đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện N để thẩm định. Cán bộ thẩm định là ông Lô Văn T3 khi đó cũng không phát hiện việc thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5 là thửa đất số 27 tờ bản đồ số 7 mà vẫn tiến hành hoàn thiện hồ sơ để chuyển đến Phòng Tài nguyên và Môi trường
4
huyện N để tham mưu cho Phó chủ tịch UBND huyện N ký GCNQSDĐ cho Lý Thị H.
Đến ngày 02/02/2015, UBND huyện N cấp cho Lý Thị H GCNQSDĐ số BS 263941 đối với thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5; GCNQSDĐ số BS 263940 đối với thửa đất số 411 tờ bản đồ số 9; GCNQSDĐ số BS 263939 đối với thửa đất số 170 tờ bản đồ số 10. Như vậy, thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5 có 02 GCNQSDĐ là GCNQSDĐ số BA 825379 (Lý Thị H đang thế chấp tại Chi nhánh ngân hàng B) và GCNQSDĐ số BS 263941, đều mang tên Lý Thị H.
Ngày 15/01/2016 Lý Thị H cùng chồng là ông Hoàng Văn T đã chuyển nhượng thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9, diện tích 1.063m² mà Lý Thị H đã được cấp GCNQSDĐ số BS 038668, ngày 01/11/2013 (Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 9 chính là thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7, diện tích 1.058m² nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379 mà Lý Thị H và ông T đã thế chấp tại Chi nhánh Ngân hàng BIDV tỉnh B) cho vợ chồng ông Lý Văn D và bà Nông Thị N2 với số tiền ghi trong hợp đồng chuyển nhượng là 57.000.000 đồng, nhưng số tiền chuyển nhượng thực tế là 80.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng QSDĐ, Lý Thị H không thông báo cho ông D, bà N2 về việc thửa đất đã được thế chấp tại Chi nhánh Ngân hàng B, cũng không thông báo cho Ngân hàng B về việc chuyển nhượng QSDĐ cho ông D, bà N2. Sau khi hoàn thiện các thủ tục, đến ngày 04/02/2016 UBND huyện N đã có Quyết định số 147/QĐ-UBND về việc thu hồi GCNQSDĐ số BS038668 đồng thời phê duyệt cấp GCNQSDĐ số CB774890 cho hộ ông D, bà N2 tại thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9.
Đến thời hạn trả nợ, bà Lý Thị H không trả được nợ gốc và lãi theo cam kết cho Chi nhánh Ngân hàng B nên Ngân hàng B khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn để giải quyết, tuy nhiên sau đó vụ án được chuyển đến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2019/KDTM-ST ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng tuyên xử:
“
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm gồm:
+...
+ Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 27 tờ bản đồ số 7 (là thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5) theo giấy chứng nhận số BA 825379 do UBND huyện N cấp ngày 20/01/2012 mang tên bà Lý Thị H.
Trong trường hợp bà Lý Thị H không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Ngân hàng TMCP Đ có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 01/2013/HĐ ngày 31/01/2013 gồm:
+ ...
5
+ Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 đo đạc năm 2012 theo GCN QSDĐ số BA 825379 (Là thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 diện tích đo đạc thực tế là 1.063m²).
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 (là thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9) giữa bà Lý Thị H với ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2 vô hiệu.
- Hủy GCNQSDĐ số CB 774890, cấp ngày 04/02/2016 do UBND huyện N cấp cho ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2”.
Do có kháng cáo của ông Lý Văn D, tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 26/2020/KDTM-PT ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng quyết định:
“Không chấp nhận kháng cáo của ông Lý Văn D; giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2019/KDTM-ST ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn về phần xử lý tài sản bảo đảm cho khoản vay của bà Lý Thị H đối với thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 diện tích 1.058m² nay là thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 diện tích 1.063m² tại N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 diện tích 1.058m² nay là thửa số 30 tờ bản đồ số 9 diện tích 1.063m² giữa bà Lý Thị H với ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2 là vô hiệu. Hủy GCN QSDĐ số CB 774890 ngày 04/02/2016 do UBND huyện N cấp cho ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2”.
Ngày 21/6/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 32, trưng cầu Giám định viên Phòng K Công an tỉnh B giám định chữ ký chữ viết trong các tài liệu có phải do Lý Thị H ký, viết ra không, gồm các tài liệu sau:
- 01 tờ giấy, loại giấy A4, bản gốc "ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP LẠI, CẤP ĐỔI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT" từ thửa đất số 9 tờ bản đồ số 7 cấp đổi thành thửa đất số 148 tờ bản đồ số 5, viết ngày 12/8/2013.
- 01 tờ giấy, loại giấy A4, bản gốc "ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP LẠI, CẤP ĐỔI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT" từ thửa đất số 64 tờ bản đồ số 7 cấp đổi thành thửa đất số 31 tờ bản đồ số 9, viết ngày 12/8/2013.
- 01 tờ giấy, loại giấy A4, bản gốc "ĐƠN ĐỀ NGHỊ CẤP LẠI, CẤP ĐỔI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT" từ thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 cấp đổi thành thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9, viết ngày 12/8/2013.
- 01 tờ giấy, loại giấy A4, bản gốc "ĐƠN ĐĂNG KÝ, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT" đối với thửa đất số 149 tờ bản đồ số 5, viết ngày 26/11/2014.
Ngày 30/7/2021 Phòng K Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 23/KTHS-GĐTL, kết luận: Các chữ ký và chữ viết "Lý Thị H" dưới mục người
6
viết đơn trong các tài liệu giám định và các tài liệu so sánh do một người ký và viết ra.
Quá trình điều tra bổ sung, ngày 07/7/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 15 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N tiến hành định giá để xác định giá trị của các thửa đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Hoàng Văn T và bà Lý Thị H tại thời điểm ngày 15/01/2016.
Tại Kết luận định giá tài sản số 33 ngày 08/12/2023; Kết luận định giá tài sản số 05 ngày 19/01/2024 và Văn bản số 02 ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N về việc đính chính thông tin trong báo cáo, biên bản và kết luận định giá kết luận:
- Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 832789 mang tên ông Hoàng Văn T, cấp ngày 05/9/2000 gồm 06 thửa đất tại thôn Bản Diếu, xã L (nay là xã S), huyện N, Bắc Kạn.
Thửa đất số 64 tờ bản đồ số 36, diện tích 4.865m², mục đích sử dụng: Đất bằng trồng cây hàng năm khác, kí hiệu BHK có giá trị 145.950.000 đồng.
Thửa đất số 64 tờ bản đồ số 36, diện tích 100m², mục đích sử dụng: Đất ở nông thôn, kí hiệu ONT, có giá trị 18.000.000 đồng.
Thửa đất số 120 tờ bản đồ số 36, diện tích 240m², mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, ký hiệu LUC có giá trị 9.600.000 đồng.
Thửa đất số 156 tờ bản đồ số 36, diện tích 1.139m², mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, ký hiệu LUC có giá trị 45.560.000 đồng.
Thửa đất số 127 tờ bản đồ số 39, diện tích 394m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác, ký hiệu BHK có giá trị 11.820.000 đồng.
Thửa đất số 275 tờ bản đồ số 40, diện tích 574m², mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, ký hiệu LUC có giá trị 22.960.000 đồng.
Thửa đất số 280 tờ bản đồ số 40, diện tích 144m², mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, ký hiệu LUC có giá trị 5.760.000 đồng.
- Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 825379, cấp ngày 05/9/2000 gồm 04 thửa đất tại đồng N, T, huyện N, tỉnh Bắc Kạn:
Thửa đất số 9 tờ bản đồ số 7, diện tích 955m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác, ký hiệu BHK có giá trị 47.750.000 đồng
Thửa đất số 27 tờ bản đồ số 7, diện tích 1.530m², mục đích sử dụng: Đất trồng cây hàng năm khác, ký hiệu BHK có giá trị 76.500.000 đồng.
Thửa đất số 64 tờ bản đồ số 7, diện tích 459m², mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, ký hiệu LUC có giá trị 24.327.000 đồng.
Thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7, diện tích 1.058m², mục đích sử dụng: Đất chuyên trồng lúa nước, ký hiệu LUC có giá trị 56.074.000 đồng.
7
Tổng giá trị của tất cả các thửa đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số N 832789 và số BA 825379 nêu trên là 464.301.000 đồng.
Ngày 11/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 33 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N tiến hành định giá đối với 01 (một) ngôi nhà sàn 5 gian, diện tích 174,2m², cột bằng gỗ nghiến tròn, mái lợp ngói âm dương, vách tường nhà bưng bằng gỗ tạp cao 1,95m, tổng diện tích vách tường gỗ là 99,216m², sàn nhà rải ván gỗ tạp. Cửa chính hai cánh có kích thước 0,96m x 1,80m, cửa phụ có kích thước 0,9m x 1,80m, không có cánh cửa. Nhà được dựng từ năm 1973 và sử dụng đến nay
Tại Kết luận định giá tài sản số 04 ngày 15/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện N kết luận: 01 (một) ngôi nhà sàn 5 gian theo Yêu cầu định giá tài sản số 33 tại thời điểm định giá ngày 15/01/2016 có giá trị là 107.231.000 đồng.
Tại Công văn số 181 ngày 29/01/2024 của Chi nhánh Ngân hàng B trả lời theo yêu cầu của Cơ quan điều tra: Tính đến thời điểm ngày 15/01/2016 Lý Thị H còn nợ ngân hàng B tổng số tiền là 442.366.666 đồng (Trong đó nợ gốc 400.000.000đ, nợ lãi 42.366.666₫).
Ngày 25/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N ban hành văn bản số 205/CSĐT-ĐTTH đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hủy Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2019/KDTM-ST ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 26/2020/KDTM-PT ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Sau khi nhận được văn bản của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã có văn bản kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy 02 bản án nêu trên. Tuy nhiên tại thông báo số 708 ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau: Không có căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm đối với Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2019/KDTM-ST ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 26/2020/KDTM-PT ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Ngoài việc chuyển nhượng thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 cho ông D, bà N2 thì Lý Thị H cùng chồng ông Hoàng Văn T còn thực hiện việc chuyển nhượng thửa đất số 149, tờ bản đồ số 5 (Là thửa đất số 27 tờ bản đồ số 7 nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379 Lý Thị H và ông T đã thế chấp tại Chi nhánh Ngân hàng B cho ông Nguyễn Đình T5 với số tiền 100.000.000 đồng ghi trong hợp đồng chuyển nhượng nhưng sau đó phát hiện cấp trùng nên không tiếp tục thực hiện được việc chuyển nhượng; ngoài ra Lý Thị H cùng chồng còn thực hiện chuyển nhượng thửa đất số 156 và thửa đất số 120 đều tờ bản đồ số 36 vào ngày 29/10/2010 cho ông Nông Ngọc N3 và vợ là và Lục Thị Q. Tuy nhiên hành vi chuyển nhượng các thửa đất nêu trên của Lý Thị H và ông Hoàng Văn T không
8
đủ căn cứ chứng minh Lý Thị H và ông Hoàng Văn T phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện N và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố B không khởi tố vụ án hình sự.
Trong quá trình điều tra, Lý Thị H không thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Bản thân Lý Thị H có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác như được Tổng giám đốc B1 và Bảo hiểm xã hội tỉnh B tặng nhiều bằng khen, giấy khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ các năm 2002, 2004, 2007, 2008, 2009, 2013 và được tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở các năm 2000, 2001, 2010, 2011. Ngoài ra Lý Thị H còn có bố đẻ là ông Lý Văn N được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Do đó bị can được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51/BLHS và tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Lý Thị H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Bị cáo Lý Thị H trình bày: Các thửa đất bị cáo xin cấp đổi vào năm 2013 và năm 2014 là nằm trong 29 thửa đất mà bị cáo được thừa kế sau khi cha đẻ bị cáo là ông Lý Văn N chết. Bị cáo không xin cấp đổi các thửa đất nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379 năm 2013 bị cáo đã thế chấp tại Chi nhánh Ngân hàng BIDV tỉnh B. Sau khi cấp đổi được GCNQSDĐ, bị cáo không biết là Nhà nước đã cấp đổi cho bị cáo thửa đất số 27 và thửa đất số 110 cùng tờ bản đồ số 7 nên bị cáo mới thực hiện việc chuyển nhượng cho ông D, bà N2 và ông T5. Tại phiên tòa, bị cáo cũng khẳng định khi ngân hàng thẩm định tài sản thế chấp là QSDĐ thì bị cáo biết vị trí của thửa đất số 110 và khi chuyển nhượng QSDĐ cho ông D, bà N2 bị cáo cũng biết vị trí của thửa đất số 30 là thửa đất đã được ngân hàng thẩm định khi vay vốn. Mặc dù vậy, bị cáo không thừa nhận phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" như Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận việc ký nhận vào các đơn xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ đối với các thửa đất số 9, 64, 110 mà không xem xét lại kỹ nội dung của đơn xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ do bị cáo phải xem xét nhiều loại giấy tờ của gia đình và cơ quan; thời gian đến làm thủ tục về GCNQSDĐ có hạn; không có chuyên môn về các loại giấy tờ liên quan đến đất đai dẫn đến việc bị cáo nhầm tưởng là đơn xin cấp mới không liên quan đến các thửa đất đã thế chấp cho Ngân hàng B, đồng thời xin chịu trách nhiệm với chữ ký, chữ viết họ tên bên dưới chữ ký của bị cáo trong đơn xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ và bị cáo có lỗi với Ngân hàng B, với ông D, bà N2; bị cáo nhất trí trả lại cho ông D, bà N2 số tiền 80.000.000 đồng và số tiền 4.000.000 đồng làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 cho ông D, bà N2. Tại phiên tòa bị cáo trả trước số tiền 30.000.000 đồng trong tổng số tiền 84.000.000 đồng cho ông D, bà N2. Số tiền 54.000.000 đồng còn lại sẽ trả cho ông D, bà N2 sau ngày thứ 30 kể từ ngày tuyên án. Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc để quyết định.
9
Bị hại và đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị hại bà Nông Thị N2 là ông Lý Văn D trình bày về việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 30 từ bị cáo H và ông T, cũng như quá trình giải quyết tranh chấp liên quan đến thửa đất số 30 đã nhận chuyển nhượng đúng như cáo trạng. Nay vợ chồng ông D, bà N2 yêu cầu:
Về trách nhiệm dân sự: Ông D đề nghị bị cáo H và ông Hoàng Văn T phải trả lại cho vợ chồng ông Danh số tiền vợ chồng ông D đã trả cho bị cáo H và ông T khi thực hiện chuyển nhượng thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 là 80.000.000 đồng và trả số tiền 4.000.000 đồng vợ chồng ông D đã bỏ ra để làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9. Tại phiên tòa, ông D đã nhận số tiền 30.000.000 đồng do vợ chồng bị cáo trả và nhất trí bị cáo H và ông T còn phải trả cho vợ chồng ông Danh số tiền 54.000.000 đồng còn lại ngay sau ngày thứ 30 kể từ ngày tuyên án. Về trách nhiệm hình sự: Ông D đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T trình bày: Ngày 15/01/2016 ông và vợ là bị cáo Lý Thị H có được chuyển nhượng thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9, diện tích 1.063m² mà bị cáo H đã được cấp GCNQSDĐ số BS 038668, ngày 01/11/2013 cho vợ chồng ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2 với số tiền là 80.000.000 đồng. Khi ông và bị cáo H chuyển nhượng QSDĐ cho ông D, bà N2 thì ông không biết thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 chính là thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 đã được ông và bị cáo H đã thế chấp tại Chi nhánh Ngân hàng B, nên ông và bị cáo H mới thực hiện việc chuyển nhượng. Nay ông nhất trí với yêu cầu trả lại tổng số tiền 84.000.000 đồng của ông Lý Văn D và bà Nông Thị N2; tại phiên tòa, ông T và bị cáo H đã trả số tiền 30.000.000 đồng cho bị hại; ông T nhất trí cùng với bị cáo H có nghĩa vụ trả số tiền còn lại là 54.000.000 đồng cho ông D và bà N2 ngay sau ngày thứ 30 kể từ ngày tuyên án
Tại các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, ông Hoàng Tiến D1 trình bày: Thời điểm bà H kê khai xin cấp quyền sử dụng đất năm 2014 thì ông không được tham gia vì chưa là công chức chính thức. Ngày 23/12/2014, khi ông làm thủ tục giao 03 GCNQSDĐ cho bà H, ông đang công chức tập sự chưa có kinh nghiệm, nên khi bà H có trình bày là năm 2000, bà H đã giao nộp GCNQSDĐ mang tên cha của bà là ông Lý Văn N và bà là người thừa kế theo di chúc nên đã không đối chiếu với quyết định của UBND huyện N về việc phê duyệt cấp đổi, cấp lại GCNQSDĐ trong đó có danh sách các trường hợp được cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ kèm theo dẫn đến sai sót cấp 03 GCNQSDĐ cho bà H mà không yêu cầu bà H giao nộp GCNQSDĐ cũ. Ngày 26/11/2014, bà H đến xin cấp lần đầu đối với thửa đất số 149, 411, 170 và bà H trình bày là các thửa đất xin cấp mới chưa được cấp lần nào và là các thửa đất được thừa kế từ cha là Lý Văn N và đưa ra bản di chúc sau khi ông đã cho kiểm tra lại toàn bộ các GCNQSDĐ trước đây thì địa chính thị trấn không lưu trữ GCNQSDĐ nào của ông Lý Văn N. Ngoài ra, do thiếu kinh nghiệm trong việc kiểm tra hồ sơ và tin tưởng vào trình bày của bà H nên đã không phát hiện ra thửa số 149 là thửa số 27 đã được cấp GCNQSDĐ năm 2012 cho bà H, nên đã
10
hoàn tất thủ tục và chuyển hồ sơ cho Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N.
Tại biên bản ghi lời khai, biên bản làm việc, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đơn xin xét xử vắng mặt, ông Lô Văn T3 trình bày: Trong thời gian công tác tại Chi nhánh VPĐKDĐ huyện N, thì vào ngày 15/01/2015, ông có được tiếp nhận 03 hồ sơ cấp QSDĐ mới của bà Lý Thị H do công chức địa chính thị trấn Y là Hoàng Tiến D1 hướng dẫn thực hiện. Quá trình kiểm tra hồ sơ thấy trong hồ sơ xin cấp mới thửa 149 có 200m² đất ở và 1.319m² đất trồng cây hàng năm, còn trong thửa đất số 27 là đất trồng cây hàng năm và bản thân ông có thiếu sót trong việc đối chiếu giữa hai bản đồ đo đạc địa chính cũ và mới nên mới xảy ra việc thửa 149 cấp trùng với thửa số 27 dẫn đến tham mưu không đúng cho lãnh đạo VPĐKQSDĐ huyện N. Đối với 03 đơn xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ của bà H thì vào năm 2012, thực hiện dự án đo đạc chỉnh lý bản đồ địa chính gắn với công tác cấp GCNQSDĐ năm 2012 của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B thì tại thời điểm tiếp nhận đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ ngày 12/8/2013 của bà H, dựa vào bản sao GCNQSDĐ do bà H cung cấp thì cán bộ của đơn vị tư vấn thực hiện tiếp nhận hoàn thiện hồ sơ hỗ trợ người dân điền các thông tin vào đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ, trong đó có nội dung thông tin trong các mục 4.1, 4.2 của đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ ngày 12/8/2012. Sau khi hoàn thiện hồ sơ thì đơn vị tư vấn chuyển hồ sơ đến UBND thị trấn Y tiến hành thẩm định. Sau khi thẩm định hồ sơ xin cấp đổi của bà H thấy có bản sao GCNQSDĐ và thấy có đủ điều kiện được cấp đổi thì ông đã ký vào mục cán bộ địa chính. Còn đối với cùng một thửa đất nhưng trong GCNQSDĐ số BA 825379 cấp năm 2012, nhưng trong GCNQSDĐ số BS 038667 cấp năm 2013, ghi khác nhau về tên số thửa; tờ bản đồ; diện tích; địa danh thửa đất thì quá trình đo đạc, chỉnh lý, thiết bị đo vẽ, kỹ thuật phương tiện dùng để đo vẽ hiện đại hơn sẽ có sự sai lệch về diện tích giữa GCNQSDĐ cấp trước với GCNQSDĐ cấp đổi; về số thửa, tờ bản đồ khác nhau là do quá trình chỉnh lý, đo đạc lại là theo quy trình kỹ thuật nên số thửa và số tờ bản đồ sẽ có sự khác nhau; còn địa danh thửa đất thì trong quá trình làm thủ tục cấp QSDĐ và cấp GCNQSDĐ thì Nhà nước đã có khuyến cáo: Người sử dụng đất cần kiểm tra lại các thông tin khi làm thủ tục cấp QSDĐ và khi nhận GCNQSDĐ, nếu phát hiện có sai sót thì cần báo lại cho cơ quan chuyên môn để chỉnh lý lại cho đúng, nhưng bà H không có ý kiến gì nên dẫn đến sự khác nhau; còn về thời hạn sử dụng đất giống nhau giữa thửa đất được cấp năm 2012 với thửa đất được cấp đổi năm 2013 giống nhau là đúng, vì khi cấp đổi thì thời hạn sử dụng đất vẫn được giữ nguyên. Ngoài ra ông không có ý kiến gì.
Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, ông Lý Văn T4 trình bày: Ông giữ chức danh công chức địa chính thị trấn Y từ ngày 01/01/2011 đến nay. Khi ông Hoàng Tiến D1 giao 03 GCNQSDĐ cho bà H thì ông tuy ngồi cùng phòng với ông D1, nhưng không biết ông D1 giao GCNQSDĐ được cấp cho những thửa đất nào, do ông không giao thực hiện công việc này.
Tại biên bản làm việc lập ngày 31/5/2022; Văn bản số 285 ngày 28/02/2024 và
11
đơn xin xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của B trình bày: Cho đến hiện tại, B chưa phát mại thửa đất số đối với thửa số 110 tờ bản đồ số 7 (Là thửa đất số 30, tờ bản đồ số 9) để xử lý nợ; thửa đất này thuộc phạm vi sẽ bị phát mại để xử lý nợ nếu bà H không trả nợ ngân hàng. Tại phiên tòa dân sự có mặt ông D, bà N2, nên Ngân hàng B không cần phải thông báo cho ông D, bà N2 chấm dứt các hoạt động liên quan đến việc chiếm giữ, sử dụng thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 (Là thửa đất số 30, tờ bản đồ số 9). Sau khi bản án sơ thẩm và phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật, ông D, bà N2 phải chấp hành nghiêm bản án; còn B vẫn đang lưu giữ GCNQSDĐ theo hợp đồng thế chấp. Trong trường hợp bà Lý Thị H không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại các thửa đất tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 02/2019/KDTM-ST ngày 21/10/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn và Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 26/2020/KDTM-PT ngày 14/9/2020 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Ngoài ra không còn có ý kiến nào khác.
Tại biên bản ghi lời khai, ông Hà Văn C trình bày: Ông công tác tại B từ năm 2009 đến tháng 9/2013 thì được điều động đến công tác tại phòng B. Đầu năm 2013 ông có được thụ lý hồ sơ tín dụng của bà Lý Thị H vay vốn và là người đi thẩm định tài sản thế chấp có trong 02 GCNQSDĐ của vợ chồng bà H. Khi đi thẩm định thì có mặt bà H nhưng chỉ đến khu vực của các thửa đất thế chấp chứ không đến trực tiếp từng thửa. Hơn nữa thời gian đi thẩm định đã lâu nên không nhớ bà H đã dẫn đến địa điểm nào của thị trấn Y và không được trực tiếp đến vị trí của 02 thửa đất trồng lúa. Công việc thẩm định chủ yếu làm việc với UBND xã L và thị trấn Y; còn đối với 156, 120 ở xã L thì không được bà H thông tin về thửa 156, 120 đã chuyển nhượng cho người khác. Ngoài ra không còn có ý kiến gì khác.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Rì đã tuyên bố bị cáo Lý Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 38; Điều 48; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ vào Điều 292, 293, 331, 333 BLTTHS năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 288, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Tuyên bố: Bị cáo Lý Thị H (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lý Thị H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù,
12
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/6/2024).
Giao bị cáo Lý Thị H cho UBND xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 11/6/2024). Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo Lý thị H1.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Lý Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ liên đới với bị cáo là ông Hoàng Văn T với bị hại ông Lý Văn D, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền cho bị hại bà Nông Thị N2 về việc: Bị cáo H và ông T có nghĩa vụ trả lại cho ông D, bà N2 tổng số tiền 84.000.000 (T6 mươi tư triệu) đồng (Trong đó gồm có: 80.000.000 (T6 mươi triệu) đồng ông D, bà N2 đã trả cho bị cáo H và ông T để thực hiện việc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 và số tiền 4.000.000 (Bốn triệu) đồng ông D, bà N2 đã thực hiện nghĩa vụ thuế để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9). Ông D, bà N2 đã nhận lại số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng trong tổng số tiền 84.000.000 (T6 mươi tư triệu) đồng theo biên bản giao nhận tiền lập ngày 07/6/2024. Buộc bị cáo Lý Thị H và ông Hoàng Văn T còn phải liên đới trả lại cho ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2 số tiền 54.000.000 (Năm mươi tư triệu) đồng.
Về án phí: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo Lý Thị H; miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch cho ông Hoàng Văn T.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm cho rằng bị cáo bị oan (Không phạm tội).
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm: Bị cáo không cung cấp được tài liệu đồ vật mới làm căn cứ xác định bị cáo không phạm tội. Hành vi của bị cáo Lý Thị H lấy thửa đất đang thế chấp tại Ngân hàng Đ chi nhánh tỉnh B để bảo đảm cho khoản vay 400.000.000đ, mang đi bán cho ông Lý Văn D và bà Nông Thị N2 chiếm đoạt 84.000.000₫ đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, án sơ thẩm xét xử tuyên bị cáo Lý Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, là đúng người, đúng tội, không oan. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
13
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Lý Thị H cho rằng năm 2013, bị cáo chỉ được làm đơn xin cấp đổi 03 thửa đất mà bị cáo được hưởng thừa kế của cha bị cáo là ông Lý Văn N từ GCNQSDĐ đứng tên cha của bị cáo sang tên bị cáo. Bị cáo không được làm đơn xin cấp đổi 03 thửa đất nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379 đã thế chấp tại Chi nhánh Ngân hàng B. Việc cơ quan Nhà nước tự ý cấp đổi cho bị cáo 03 thửa đất nằm trong GCNQSDĐ số BA 825379, bị cáo không biết. Sau khi bị cáo nhận được 03 GCNQSDĐ đã cấp đổi cho 03 thửa đất số 148, 31, 30, bị cáo không đối chiếu lại nên không biết để nộp lại cho Ngân hàng mà bị cáo vẫn nghĩ rằng 03 GCNQSDĐ được cấp đổi này là cấp đổi từ 29 thửa đất mà bị cáo được hưởng thừa kế của ông Lý Văn N, nên bị cáo mới thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 cho vợ chồng ông D, bà N2 với số tiền chuyển nhượng là 80.000.000 đồng. Do đó, bị cáo không phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo như Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã xét xử.
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm có cơ sở để khẳng định: Năm 2013, bị cáo Lý Thị H đã thế chấp QSDĐ của các thửa đất số 9, 27, 64, 110 cùng tờ bản đồ số 7 đã được cấp GCNQSDĐ số BA 825379 cho bị cáo và QSDĐ của các thửa đất số 64, 120, 156 cùng tờ bản đồ số 36, thửa đất số 127 tờ bản đồ số 39, các thửa đất số 275 và 280 cùng tờ bản đồ số 40 đã được cấp GCNQSDĐ số N 832789 cho hộ ông Hoàng Văn T tại Chi nhánh Ngân hàng BIDV tỉnh B để vay số tiền 400.000.000 đồng vào ngày 01/02/2013. Nhưng đến ngày 12/8/2013, bị cáo H lại ký vào 03 đơn xin cấp đổi GCNQSDĐ cho 03 thửa đất số 9, 64, 110 trong GCNQSDĐ số BA825379 thành 03 GCNQSDĐ mới có số GCNQSDĐ lần lượt là BS 038667, BS 038669, BS 038668 và số thửa được thay đổi tương ứng thành số 148, 31, 30. Lợi dụng việc ông Hoàng Tiến D1 sơ suất không thu hồi GCNQSDĐ số BA 825379 khi phát 03 GCNQSDĐ mới được cấp đổi, nên sau đó vào ngày 15/01/2016, bị cáo H đã chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất trồng lúa nước số 30 tờ bản đồ số 9 được cấp GCNQSDĐ số BS 038668 cho vợ chồng ông Lý Văn D, bà Nông Thị N2 với số tiền là 80.000.000 đồng, trong khi thửa đất này vẫn đang thế chấp tại Chi nhánh ngân hàng BIDV tỉnh B.
Hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác của bị cáo được thể hiện sau khi cấp đổi từ thửa đất số 110 tờ bản đồ số 7 trong GCNQSDĐ số BA 825379 thành thửa đất số 30 tờ bản đồ số 9 và được cấp GCNQSDĐ số BS 038668 thì bị cáo không thông báo và nộp lại GCNQSDĐ cấp đổi này cho Ngân hàng mà giữ lại để thực hiện việc chuyển nhượng cho ông D và bà N2 nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác.
Hành vi nêu trên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng pháp luật.
14
[3]. Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo thấy: Tại phiên tòa cấp phúc thẩm bị cáo Lý Thị H không nộp được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh cho bị cáo không phạm tội. Vì vậy, kháng cáo kêu oan của bị cáo là không có căn cứ, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo mà giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm.
[4]. Về án phí: Bị cáo sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Không chấp nhận kháng cáo
của bị cáo Lý Thị H giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 19/2024/HSST, ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn về hình phạt tù.
Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 139 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Điều 38; Điều 48; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội;
Xử phạt bị cáo Lý Thị H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 54 (Năm mươi tư) tháng về tội “Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tuyên sơ thẩm.
Giao bị cáo Lý Thị H cho UBND xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Miễn nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm cho bị cáo.
3. Các quyết định khác
của Bán án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
15
16
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
17
|
Đặng Đình Hưng |
18
Bản án số 16/2024/HS-PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về hình sự phúc thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 16/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thị H “Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
