|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12 - 9 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tặng và ông Nguyễn Văn Đúng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị D, sinh năm 1997; nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Nhà H, số D, đoạn C, đường T, phường N, quận Q, thành phố Đ, Đài Loan (Trung Quốc); vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Trịnh Thị D để giao tài liệu, nhận văn bản tố tụng của Toà án: Anh Nguyễn Việt H - Công ty L và Cộng sự; địa chỉ: Ngõ D, D, phường M, quận C, Thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn P, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; địa chỉ: Số A, ngách F, ngõ A, đường Q, khu T, thành phố C, Đài Loan (Trung Quốc); vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Đỗ Văn P để giao tài liệu, nhận văn bản tố tụng của Toà án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Trần Thị Q, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam ngày 19/12/2016. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh chị sang Đài Loan để lao động xây dựng kinh tế gia đình, từ khi sang Đài Loan anh chị mỗi người một nơi, thường xuyên nảy sinh nhiều tranh cãi, mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về tính cách, quan điểm sống, lối sống nên cuộc sống vợ chồng không còn hoà hợp và không tìm được tiếng nói chung. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn và được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên sau đó anh chị ít khi liên lạc với nhau. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị D và anh P đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đều đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho anh chị.
Về con chung: Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P có 02 con chung là cháu Đỗ Phương Tuệ A, sinh ngày 29/6/2017 và cháu Đỗ Trâm A1, sinh ngày 05/8/2020, hiện nay hai cháu đang ở cùng với bà nội. Ly hôn, anh chị thống nhất thoả thuận giao cháu Đỗ Phương Tuệ A cho anh Đỗ Văn P chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Trâm A1 cho chị Trịnh Thị D nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Chị Trịnh Thị D đề nghị Toà án tạm giao cháu Đỗ Trâm A1 cho mẹ đẻ chị là bà Trần Thị Q, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam chăm sóc, nuôi dưỡng; anh Đỗ Văn P đề nghị Toà án tạm giao cháu Đỗ Phương Tuệ A cho mẹ đẻ anh là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh chị sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Khi anh chị về Việt Nam sẽ đón các cháu về nuôi, hàng tháng anh chị có trách nhiệm gửi tiền về cho bà Q và bà T chăm sóc, nuôi dưỡng 2 cháu.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung và các vấn đề khác: Chị D và anh P đều không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị D tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định, anh P nhất trí, không có ý kiến gì.
2
* Tại văn bản ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T và bà Trần Thị Q trình bày: Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P có 02 con chung là cháu Đỗ Phương Tuệ A và cháu Đỗ Trâm A1, hiện nay hai cháu đang ở cùng bà T, khi anh chị ly hôn thống nhất thoả thuận giao cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Phương Tuệ A và giao cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đỗ Trâm A1. Trong thời gian anh chị đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, bà T có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tuệ A thay anh P, bà Q có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trâm A1 thay cho chị D đến khi anh chị về Việt Nam thì sẽ giao lại cho anh chị chăm sóc 2 cháu theo quy định. Bà T và bà Q đều không yêu cầu anh P và chị D thanh toán tiền chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Tuệ A và Trâm A1.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 55, 81, 123 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của đương sự, giao cháu Đỗ Phương Tuệ A, sinh ngày 29/6/2017 cho anh P nuôi dưỡng, chăm sóc; giao cháu Đỗ Trâm A1, sinh ngày 05/8/2020 cho chị D nuôi dưỡng, chăm sóc, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con chung. Trong thời gian anh P, chị D không ở Việt Nam tạm giao bà T chăm sóc cháu Tuệ A, bà Q chăm sóc cháu Trâm A1. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị D phải chịu 150.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nghe Kiểm sát viên phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trịnh Thị D khởi kiện về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, do chị D và anh P đều có hộ khẩu thường trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam và đang lao động tại Đài Loan nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P kết hôn ngày 19/12/2016 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, việc anh chị kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi anh chị sang Đài Loan làm việc thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống mỗi người một nơi, thường xuyên nảy sinh nhiều tranh cãi, bất đồng về tính cách, quan điểm sống, lối sống nên cuộc sống vợ chồng không còn hoà hợp và không tìm được tiếng nói chung. Anh chị đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn và được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Anh chị sống ly thân từ tháng 12/2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị D và anh P đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án giải quyết ly hôn cho anh chị. Xét mâu thuẫn của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và cả hai đều tự nguyện ly hôn nên căn cứ theo quy định tại Điều 55 của Luật hôn nhân và gia đình xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P.
[4] Về con chung: Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P có 02 con chung là cháu Đỗ Phương Tuệ A và cháu Đỗ Trâm A1, hiện nay hai cháu đang ở cùng với bà nội, cháu Đỗ Phương Tuệ A có nguyện vọng xin ở với anh P. Ly hôn, anh chị thống nhất thoả thuận giao cháu Đỗ Phương Tuệ A cho anh Đỗ Văn P trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và giao cháu Đỗ Trâm A1 cho chị Trịnh Thị D trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Hội đồng xét xử thấy việc thoả thuận của anh chị là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp nguyện vọng của cháu Tuệ A và quy định tại Điều 81, 82, 110 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Hiện chị D và anh P đang lao động tại Đài Loan nên đã uỷ quyền cho bà Trần Thị Q (mẹ đẻ chị D) và bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ anh P) trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trâm A1 và cháu Tuệ A trong thời gian anh chị lao động tại Đài Loan. Bà Q và bà T đều nhất trí trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trâm A1 và cháu Tuệ A nên Hội đồng xét xử tạm giao cháu Đỗ Trâm A1 cho bà Trần Thị Q và cháu Đỗ Phương Tuệ A cho bà Nguyễn Thị T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 9/2024, khi chị D và anh P về Việt Nam bà Q và bà T có trách nhiệm giao các cháu lại cho chị D và anh P trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định.
[5] Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác: Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P phải chịu theo quy định của pháp luật, chấp nhận sự tự nguyện của chị D chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 55, 58, 81, 82, 83 và 123 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Q1 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa Chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P.
2. Về con chung: Công nhận sự thoả thuận của đương sự, giao cháu Đỗ Phương Tuệ A, sinh ngày 29/6/2017 cho anh Đỗ Văn P và giao cháu Đỗ Trâm A1, sinh ngày 05/8/2020 cho chị Trịnh Thị D trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 9/2024 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành tự lập, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Tạm giao cháu Đỗ Trâm A1 cho bà Trần Thị Q và cháu Đỗ Phương Tuệ A cho bà Nguyễn Thị T trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 9/2024, khi chị D và anh P về Việt Nam bà Q và bà T có trách nhiệm giao các cháu lại cho chị D và anh P trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quy định.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trịnh Thị D phải chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001476 ngày 25/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ khi thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5
Bà Trần Thị Q và bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; chị Trịnh Thị D và anh Đỗ Văn P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hải |
6
Bản án số 16/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 16/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trịnh Thị D xin ly hôn anh Đỗ Văn P.
