|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/HC-ST Ngày: 23/4/2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Đây
Ông Phan Tấn Phát
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Cán bộ Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Thanh T – Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 57/2019/TLST-HC ngày 01 tháng 7 năm 2022, về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2023/QĐST-HC ngày 18/9/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 642/2023/QĐST-HC ngày 29/9/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 661/2020/QĐST-HC ngày 16/10/2023 và Thông báo mở lại phiên tòa hành chính sơ thẩm số 81/TB-HCST ngày 14/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2024/QĐST-HC ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện:
Ông Phạm Xuân L, sinh năm 1960 và bà Trần Thị M, sinh năm 1962.
Địa chỉ: C, tổ C, KP3, P.L, TP ., tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Ngọc Á sinh năm 1980.
Địa chỉ: A, Tổ A, KP . H, P.P, TP ., ĐN.
(Theo Giấy ủy quyền vào ngày 10/5/2022 – có mặt)
2. Người bị kiện:
1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ
Địa chỉ: E Đ, P.T, TP ., Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T1 – Phó Giám đốc
(Theo Văn bản ủy quyền số 5218/STNMT-VP ngày 28/7/2022 của Giám đốc Sở T – có Đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bị kiện:
Ông Lê Thanh T2 – Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ
(Theo Văn bản cử người tham gia tố tụng 5249/STNMT-VP ngày 24/7/2022 của Giám đốc Sở T - có Đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Ủy ban nhân dân huyện V
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn V, H . V, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang P – Chủ tịch.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bị kiện:
Ông Nguyễn Giang C – Phó Trường phòng Tài nguyên và Môi trường huyện V
(Theo Văn bản cử người tham gia tố tụng 5919/STNMT-VP ngày 11/8/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện V - có Đơn xin xét xử vắng mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Ủy ban nhân dân xã T
Địa chỉ: Ấp B, xã T, H . V, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Quốc S – Chủ tịch
(Có Đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1962 và ông Phạm Vĩnh L1, sinh năm 1962.
Địa chỉ: 75/16, KP8, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
3. Ông Trịnh Quốc T4, sinh năm 1973
Địa chỉ: 2, KP2, phường T, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T5, sinh năm 1986
Địa chỉ: D N, P.P, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và ông Nguyễn Duy T6, sinh năm 1974. Địa chỉ: 6/12, KP4, P.T, TP ., tỉnh Đồng Nai.
(Theo Hợp đồng ủy quyền vào ngày 24/8/2022 – vắng mặt))
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 07/3/2022 và bản tự khai, người khởi kiện ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M và người đại diện theo ủy quyền ông Vũ Ngọc Á trình bày:
Ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M là vợ chồng. Vào ngày 12/10/2003, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M có mua bằng giấy viết tay của ông Nguyễn Văn T7 diện tích đất 4.275m², thuộc thửa 1166, tờ bản đồ số 21 tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay có diện tích 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Tại thời điểm mua đất, diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực tế, sau khi mua đất, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M đã chuyển về đây sinh sống ổn định, không có tranh chấp với ai).
Ngày 31/10/2005, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và đã được cấp Giấy biên nhận số 3671/VPĐK-QSDĐ nhưng đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 28/02/2008, bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 cũng nộp tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh đồng Nai để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Ngày 25/8/2008, Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1.
Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 29/10/2013, bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông Trịnh Quốc T4. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Trịnh Quốc T4 đã thực hiện thủ tục đăng ký biến động và ngày 10/8/2015, Sở Tài nguyên và Mội trường tỉnh Đồng Nai đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648 cho ông Trịnh Quốc T4.
Do hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nộp đã lâu nhưng chưa được giải quyết và ông Trịnh Quốc T4 có Đơn tranh chấp, yêu cầu ông L2, bà M phải trả lại diện tích đất 4.3102 thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V nên đến ngày 26/9/2020, Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã mời các bên lên làm việc. Và theo Biên bản làm việc thì bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 xác nhận rằng: ông bà đã xin cấp giấy chứng nhận sai thửa đất. Thửa đất mà ông bà đăng ký là mua của ông Phạm Văn P1 tại G thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai chứ không phải diện tích đất 4.310m² thuộc thửa 278 tờ bản đồ 61, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai mà ông L1, bà T3 đang sử dụng.
Theo hồ sơ xin cấp Giây chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đã nộp tại Ủy ban nhân dân huyện V thì thửa đất mà ông bà xin cấp có nguồ gốc là ông bà nhận chuyển nhượng bằng giấy tay vào ngày 13/12/2003 của ông Phạm Văn P1 và bà Bùi Thị T8 tại G thuộc ấp B, xã T, huyện V nhưng không hiểu lý do gì mà quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai lại xác nhận cấp đất có nguồn gốc tại G thuộc ấp B, xã T, huyện V thành ấp C, xã T, huyện V.
Sau khi phát hiện sự việc xãy ra, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M nhiều lần liên hệ Ủy ban nhân dân xã T xin trích lục bộ hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đã đăng ký và đến năm 2021, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M mới xin được. Và theo ông bà được biết, việc đăng ký bị nhầm lẫn do cùng có tên là L nên quá trình trích xuất hồ sơ đăng ký đã bị nhầm lẫn giữa 02 thửa đất.
Do diện tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Vĩnh L1 và bà Nguyễn Thị T3 và sau đó đăng ký biến động cho ông Trịnh Quốc T4. Điều này làm ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M không thể xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được. Do đó, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M có Đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp ngày 25/8/2008 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đối với diện tích tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V;
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10/8/2015 cho ông Trịnh Quốc T4 đối với diện tích tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V;
Tại Văn bản ghi ngày 25/7/2022, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ là ông Nguyễn Ngọc T1 – Phó Giám đốc trình bày:
Bà Nguyễn Thị T3 được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 ngày 25/8/2008 đối với diện tích tích đất 4.310m² (bản đồ địa chính năm 2004) xã T, huyện V.
Năm 2013, bà Nguyễn Thị T3 chuyển nhượng cho ông Trịnh Quốc T4 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T3 và ông Trịnh Quốc T4 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh V tiếp nhận, thẩm tra và trình Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CB 457648 ngày 10/8/2015 đối với diện tích tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V cho ông Trịnh Quốc T4 theo quy định tại điều 188 Luật đất đai năm 013 và điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.
Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phạm xuân 1 và bà Trần Thị M, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình tố tụng, Ủy ban nhân dân huyện V có văn bản cử người tham gia tố tụng nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T trình bày tại văn bản số 06/UBND ngày 08/01/2024 như sau:
“Thửa đất 278, tờ bản đồ 61 hiện ông Phạm Xuân L và bà Nguyễn Thị M1 mua lại của ông Ngô Văn T9 vào ngày 28/10/2023 và khai phá thêm sử dụng ổn định cho đến nay không ai tranh chấp;
Trong quá trình cấp giấy tờ 16 thửa 278 do cán bộ phụ trách chuyên môn có thể nhầm lẫn giữ tờ bản đồ 16 và tờ 61 nên trong quá trình cấp giấy đã không đúng vị trí và đối tượng sử dụng”;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Quốc T4 và người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Ngọc T5 trình bày:
Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm như sau:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về việc giải quyết vụ án:
- - Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành:
- Căn cứ khoản 2 Điều 105, Điều 106 Luật Đất đai về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất việc UBND huyện V, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số AN 639578 ngày 25/08/2008 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1, GCNQSDĐ số CB 457648, cho ông T4 là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền.
- - Về nội dung, tính có căn cứ của quyết định hành chính bị kiện:
- Theo hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 thì thửa đất ông bà xin cấp có nguồn gốc là 01 phần thửa đất ông bà nhận chuyển nhượng bằng giấy tay ngày 13/12/2003 của ông Phạm Văn P1 và vợ là bà Bùi Thị T8 tại gò Đại Hàn và thửa đất có diện tích 4391m² của ông Trần Văn Đ cùng thuộc ấp B xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Sau khi nhận chuyển nhượng bà T8 và ông L1 thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất này. Tại đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/2/2008, phần kê khai của người sử dụng đất bà Nguyễn Thị T3 khai thửa đất số 278, tờ bản đồ 61 tại địa chỉ ấp B, xã T và được UBND xã T, UBND huyện V xác nhận được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 ngày 25/8/2008 tại thửa đất số 278, tờ bản đồ địa chính số 61, diện tích 4310m² theo bản đồ địa chính năm 2004 xã T, huyện V.
- Năm 2013, bà Nguyễn Thị T3 chuyển nhượng thửa đất số 278 cho ông Trịnh Quốc T4 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai công chứng số 5677 quyển số 06TP/CC-SCC ngày 29/10/2013 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 457648 ngày 10/8/2015 đối với thửa đất số 278, tờ bản đồ địa chính số 61 diện tích 4310m² xã T cho ông Trịnh Quốc T4.
- Tính đến thời điểm này (ngày 10/8/2015) thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 ngày 25/8/2008 do UBND huyện V cấp cho bà Nguyễn Thị T3 đã bị thu hồi và được thay thế bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 457648 ngày 10/8/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Trịnh Quốc T4. Việc ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M đề nghị huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578, do UBND huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 25/08/2008 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đối với diện tích 4.310m² thuộc thửa đất 278, tờ bản đồ số 61 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã không còn đối tượng khởi kiện nên yêu cầu của ông bà không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
- Xét nguồn gốc đất tranh chấp thấy rằng: thửa đất số 278, tờ bản đồ 61 có diện tích 4.310m² tại xóm M xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn T7 diện tích đất ban đầu là 4.257m², thuộc thửa 1166, tờ bản đồ 21 (cũ) tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 12/10/2003, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M nhận chuyển nhượng từ ông T7 bằng giấy viết tay (thời điểm này đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ). Ngày 31/10/2005, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất này tại Văn phòng Đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ, việc đăng ký đã được cấp biên nhận số 3671/VPĐK-QSDĐ nhưng đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 17/1/2003).
- Ngày 5/9/2019 UBND xã T tiến hành xác minh hiện trạng thửa đất 278 tờ 61, qua làm việc với bà Bùi Thị T10 là vợ của ông Phạm Văn P1 là người bán đất cho ông Phạm Vĩnh L1 và bà Nguyễn Thị T3 là miếng đất nằm tại khu vực Gò Đại H thuộc ấp 2 chứ không phải mảnh đất nằm tại khu vực ấp C như hiện trạng xác minh.
- Vào ngày 8/1/2024 UBND xã T tiến hành xác minh bổ sung hiện trạng thửa đất 278, tờ bản đồ 61 như sau: ông Phạm Xuân L và bà Nguyễn Thị M1 mua lại của ông Ngô Văn T9 vào ngày 28/10/2003 và khai phá thêm sử dụng ổn định cho đến nay không ai tranh chấp. Trong quá trình cấp giấy tờ 16 thửa 278 do cán bộ phụ trách chuyên môn có thể nhầm lẫn tờ bản đồ đồ 16 và tờ 61 nên trong quá trình cấp giấy đã không đúng vị trí và đối tượng sử dụng.
- Như vậy việc UBND huyện V cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho bà Nguyễn Thị T3 là không đúng vị trí và đối tượng sử dụng. Bà T3 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông T4 và ông T4 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền QSDĐ. Do đó cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10/08/2015 cho ông Trịnh Quốc T4 đối với diện tích 4.310m², thuộc thửa đất 278, tờ bản đồ số 61 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai để cơ quan có thẩm quyền cấp lại cho đúng đối tượng sử dụng.
- Căn cứ điểm c, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông L bà M1.
- 3. Kiến nghị: Không
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Người bị kiện là Sở Tài nguyên Mội trường tỉnh Đồng Nai và Ủy ban nhân dân huyện V có Đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T có Đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T3, Phạm Vĩnh L1 và người đại diện theo ủy quyền của ông Trịnh Quốc T4 đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 157, Điều 158 Luật Tố tụng hành chính, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[1.2] Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thì còn thời hiệu khởi kiện.
[2] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
- - Về quan hệ pháp luật: Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” được quy định tại các Điều 3, 30, 115 Luật Tố tụng hành chính.
- - Về thẩm quyền giải quyết: Đối tượng khởi kiện là “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[3] Về đánh giá tính hợp pháp của Quyết định hành chính bị khởi kiện:
Căn cứ khoản 2 Điều 105, Điều 106 Luật Đất đai về thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện:
- Việc Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 ngày 25/8/2008 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đối với diện tích tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền;
- Việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648 ngày 10/8/2015 cho ông Trịnh Quốc T4 đối với diện tích tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền;
[4] Về nội dung Quyết định hành chính bị kiện:
[4.1] Theo Hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1:
- Thửa đất ông bà xin cấp có nguồn gốc là 01 phần thửa đất ông bà nhận chuyển nhượng bằng giấy tay ngày 13/12/2003 của ông Phạm Văn P1 và vợ là bà Bùi Thị T8 tại gò Đại Hàn và thửa đất có diện tích 4391m² của ông Trần Văn Đ cùng thuộc ấp B xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Sau khi nhận chuyển nhượng bà T8 và ông L1 thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất này.
- Tại Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/2/2008, phần kê khai của người sử dụng đất bà Nguyễn Thị T3 khai thửa đất số 278, tờ bản đồ 61 tại địa chỉ ấp B, xã T và được Ủy ban nhân dân xã T, Ủy ban nhân dân huyện V xác nhận và được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 ngày 25/8/2008 tại thửa đất số 278, tờ bản đồ địa chính số 61, diện tích 4310m² theo bản đồ địa chính năm 2004 xã T, huyện V.
- Đến năm 2013, bà Nguyễn Thị T3 chuyển nhượng thửa đất số 278 cho ông Trịnh Quốc T4 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1, thành phố B, tỉnh Đồng Nai công chứng số 5677 quyển số 06TP/CC-SCC ngày 29/10/2013 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 457648 ngày 10/8/2015 đối với thửa đất số 278, tờ bản đồ địa chính số 61 diện tích 4310m² xã T cho ông Trịnh Quốc T4.
Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 ngày 25/8/2008 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp cho bà Nguyễn Thị T3 đã bị thu hồi và được thay thế bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 457648 ngày 10/8/2015 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp cho ông Trịnh Quốc T4.
Do đó, việc ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578, do UBND huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 25/08/2008 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đối với diện tích 4.310m² thuộc thửa đất 278, tờ bản đồ số 61 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã không còn đối tượng khởi kiện nên yêu cầu của ông bà không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
[4.2] Trên cơ sở kết quả xem xem xét, thẩm định tại chổ và đo đạc vào ngày 09/01/2024 và kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V (văn bản số 06/UBND ngày 08/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã T) thể hiện:
- Xét nguồn gốc đất tranh chấp thấy rằng: thửa đất số 278, tờ bản đồ 61 có diện tích 4.310m² tại xóm M xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn T7 diện tích đất ban đầu là 4.257m², thuộc thửa 1166, tờ bản đồ 21 (cũ) tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 12/10/2003, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M nhận chuyển nhượng từ ông T7 bằng giấy viết tay (thời điểm này đất chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ). Ngày 31/10/2005, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất này tại Văn phòng Đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ, việc đăng ký đã được cấp biên nhận số 3671/VPĐK-QSDĐ nhưng đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 17/1/2003).
- Ngày 5/9/2019 UBND xã T tiến hành xác minh hiện trạng thửa đất 278 tờ 61, qua làm việc với bà Bùi Thị T10 là vợ của ông Phạm Văn P1 là người bán đất cho ông Phạm Vĩnh L1 và bà Nguyễn Thị T3 là miếng đất nằm tại khu vực Gò Đại H thuộc ấp 2 chứ không phải mảnh đất nằm tại khu vực ấp C như hiện trạng xác minh và văn bản số 06/UBND ngày 08/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã T xác định:
- "Thửa đất 278 tờ 61 hiện ông Phạm Xuân L và bà Nguyễn Thị M1 mua lại của ông Ngô Văn T9 vào ngày 28/10/2003 và khai phá sử dụng ổn định cho đến nay không ai tranh chấp;
- Trong quá trình cấp giấy tờ 16 thửa 278 do cán bộ phụ trách chuyên môn có thể nhầm lẫn giữa tờ bản đồ 16 và tờ 61 nên trong quá trình cấp giấy đã không đúng vị trí và đối tượng sử dụng”
Do đó, xuất pháp từ những thiếu sót nêu trên dẫn đến việc Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm Vĩnh L1 và bà Nguyễn Thị T3 là không đúng vị trí và đối tượng sử dụng và bà Nguyễn Thị T3 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trịnh Quốc T4 và ông T4 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không đúng vị trí và đối tượng sử dụng.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10/08/2015 cho ông Trịnh Quốc T4 đối với diện tích 4.310m², thuộc thửa đất 278, tờ bản đồ số 61 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
- Đồng thời, Hội đồng xét xử kiến nghị các cơ quan có trách nhiệm có biện pháp khắc phục những sai sót nêu trên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự có liên quan trong vụ án.
[4] Về án phí hành chính sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M được chấp nhận một phần và thuộc trường hợp được miễn tạm ứng án phí nên không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
[5] Về quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên công nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 3, 30, 32, 115, 157, 158, 191, 193, 206 và Điểu 348 Luật Tố tụng hành chính.
Áp dụng Luật đất đai năm 2013 và các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 10/8/2015 cho ông Trịnh Quốc T4 đối với diện tích tích đất 4.310m² thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V;
Kiến nghị các cơ quan có trách nhiệm có biện pháp khắc phục những sai sót nêu trên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự có liên quan trong vụ án.
- Về án phí hành chính sơ thẩm:
- - Ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M không phải chịu án phí hình chính sơ thẩm.
- - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Phương Đông |
Bản án số 16/2024/HC-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Theo đơn khởi kiện ghi ngày 07/3/2022 và bản tự khai, người khởi kiện ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M và người đại diện theo ủy quyền ông Vũ Ngọc Á trình bày: Ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M là vợ chồng. Vào ngày 12/10/2003, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M có mua bằng giấy viết tay của ông Nguyễn Văn T7 diện tích đất 4.275m2, thuộc thửa 1166, tờ bản đồ số 21 tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (nay có diện tích 4.310m2 thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (Tại thời điểm mua đất, diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực tế, sau khi mua đất, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M đã chuyển về đây sinh sống ổn định, không có tranh chấp với ai). Ngày 31/10/2005, ông Phạm Xuân L và bà Trần Thị M thực hiện thủ tục đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ và đã được cấp Giấy biên nhận số 3671/VPĐK-QSDĐ nhưng đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 28/02/2008, bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 cũng nộp tại Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh đồng Nai để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích 4.310m2 thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Ngày 25/8/2008, Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 639578 cho bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 29/10/2013, bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho ông Trịnh Quốc T4. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Trịnh Quốc T4 đã thực hiện thủ tục đăng ký biến động và ngày 10/8/2015, Sở Tài nguyên và Mội trường tỉnh Đồng Nai đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 457648 cho ông Trịnh Quốc T4. Do hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sủ dụng đất nộp đã lâu nhưng chưa được giải quyết và ông Trịnh Quốc T4 có Đơn tranh chấp, yêu cầu ông L2, bà M phải trả lại diện tích đất 4.3102 thuộc thửa 278, tờ bản đồ 61, xã T, huyện V nên đến ngày 26/9/2020, Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã mời các bên lên làm việc. Và theo Biên bản làm việc thì bà Nguyễn Thị T3 và ông Phạm Vĩnh L1 xác nhận rằng: ông bà đã xin cấp giấy chứng nhận sai thửa đất. Thửa đất mà ông bà đăng ký là mua của ông Phạm Văn P1 tại G thuộc ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai chứ không phải diện tích đất 4.310m2 thuộc thửa 278 tờ bản đồ 61, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai mà ông L1, bà T3 đang sử dụng.
