Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/HC-ST

Ngày: 23/4/2024

V/v “Khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Quy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hạc và ông Huỳnh Công Trí.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần trụ sở UBND huyện T; Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hành chính thụ lý số: 07/2024/TLST-HC ngày 25/01/2024, về việc “Khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HC ngày 05 tháng 04 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 311/2024/QĐST-HC ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, giữa các đương sự:

  1. Người khởi kiện: Ông Lê Đức T – sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.
  2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt.
  3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Ngọc V - Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
    2. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
    3. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P; Vắng mặt.
    4. Ông Nguyễn Kim T1 – sinh năm 1939 và bà Hồ Thị L - sinh năm 1946; Địa chỉ: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
    5. Bà Lê Thị N - sinh năm 1970; Địa chỉ: thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Người khởi kiện ông Lê Đức T trình bày: Ngày 30/5/1996 ông Lê Hữu L1 (cha ruột của ông T) được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, gồm có 08 thửa đất, tổng diện tích 5.295m². Trong đó, có thửa đất số 360, tờ bản đồ số 06, diện tích 200m², loại đất ở nông thôn.

Ngày 09/12/2019 ông Lê Hữu L1 chết để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Lê Đức T sử dụng, được cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý tại trang 4 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944. Năm 2020 ông T đến UBND xã A xin làm thủ tục đăng ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện thửa đất số 360, tờ bản đồ số 06, diện tích 200m² loại đất ở nông thôn đã cấp trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, UBND huyện T ký ngày 30/05/1996. Nhưng thửa đất số 360, tờ bản đồ số 06 là của ông Nguyễn T1 sử dụng, còn thực tế thì gia đình ông Lê Đức T sử dụng thửa đất số 363, tờ bản đồ số 06 (đo đạc năm 1993) nay là thửa đất số 470 và thửa 471, tờ bản đồ số 29 (đo đạc năm 2012) loại đất ở để lại thừa kế cho Ông sử dụng.

Người khởi kiện ông Lê Đức T yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944 ngày 30/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Hữu L1 (để lại thừa kế cho ông Lê Đức T) đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 6, diện tích 200m² mục đích sử dụng là đất nhà ở.

- Buộc UBND huyện T thực hiện trình tự, thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đức T (người nhận thừa kế từ ông Lê Hữu L1) theo đúng quy định của pháp luật.

Người bị kiện UBND huyện T trình bày (Văn bản số 558/UBND ngày 01/3/2024 của UBND huyện T - BL 36):

Ngày 30/5/1996 ông Lê Hữu L1, thường trú thôn P, xã A (nay là xã A), huyện T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, gồm có 08 thửa đất, tổng diện tích 5.295m², trong đó có thửa đất số 360, tờ bản đồ số 06 (đo đạc năm 1994), diện tích 200m², loại đất ở.

Ngày 09/12/2019, sau khi ông Lê Hữu L1 chết để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Lê Đức T, trú tại thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên sử dụng được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T ký xác nhận.

Kiểm tra thực tế ông Lê Hữu L1 trực tiếp sử dụng thửa đất số 363, tờ bản đồ số 06 (đo đạc năm 1993), diện tích 420m², loại đất ở; theo bản đồ đo địa chính năm 2012, thửa đất số 470, tờ bản đồ số 29, diện tích 204m², loại đất ở nông thôn (ONT). Còn thửa đất số 360, tờ bản đồ số 06 (đo đạc năm 1993), diện tích 400m², loại đất ở là của ông Nguyễn Kim T1 sử dụng.

Do đó, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, ký ngày 30/5/1996, thửa đất số 360, tờ bản đồ số 06, diện tích 200m², đất ở nông thôn (ONT) cho ông Lê Hữu L1 nay để lại thừa kế cho ông Lê Đức T sử dụng là cấp không đúng đối tượng sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N trình bày: Thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim T1 trình bày: Diện tích đất ông đang sử dụng tại thửa đất 360, tờ bản đồ số 6 đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đất. Từ trước đến nay ông không có tranh chấp đất đai gì với gia đình ông L1 (hiện nay để thừa kế lại cho ông Lê Đức T). Ông Nguyễn Kim T1 không liên quan gì đến diện tích đất ông Lê Đức T khiếu kiện.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, nhưng đối thoại không được do vắng người bị kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa hành chính sơ thẩm để xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa:

Người khởi kiện giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện giữ nguyên ý kiến tại Văn bản số 558/UBND ngày 01/3/2024 của UBND huyện T và yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết đối với Quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 06/8/2020 của UBND huyện T.

Đại diện VKSND tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đúng quy định của Luật tố tụng hành chính; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện. Đồng thời hủy Quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 06/8/2020 của UBND huyện T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện UBND huyện T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Phú Yên,ông Nguyễn Kim T1, bà Lê Thi N1 vắng mặt nhưng có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã A, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Đây là phiên tòa lần thứ 2. Căn cứ khoản 2 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện: Người khởi kiện ông Lê Đức T yêu cầu Tòa án: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944 ngày 30/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Hữu L1 (để thừa kế lại cho ông Lê Đức T) liên quan đến thửa đất số 360, tờ bản đồ số 6, diện tích 200m² mục đích sử dụng là đất ở; Buộc UBND huyện T thực hiện trình tự, thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đức T (nhận thừa kế từ ông Lê Hữu L1) theo đúng quy định của pháp luật.

Theo lời trình bày của người khởi kiện thì năm 2020 ông Lê Đức T đến UBND xã A xin làm thủ tục đăng ký cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944 ngày 30/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Hữu L1 (để thừa kế lại cho ông Lê Đức T) bị sai, nhưng đến năm 2024 người khởi kiện mới nộp đơn khởi kiện tại TAND tỉnh Phú Yên yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đã quá thời hạn 01 năm theo điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Sau khi phát hiện giấy chứng nhận bị sai thì ngày 06/8/2020 UBND huyện T ra Quyết định số 3694/QĐ-UBND “V/v thu hồi thửa đất số 360 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, cấp cho ông Lê Hữu L1, thường trú thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên”. Từ đó đến nay, UBND huyện T không tiến hành các trình tự, thủ tục theo Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính Phủ để xem xét thu hồi, quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiến hành cấp lại giấy chứng nhận mới cho ông Lê Đức T theo đúng quy định của pháp luật là lỗi của cơ quan hành chính nhà nước. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện, ngày 25/01/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính.

[3] Về nội dung:

[3.1] Người khởi kiện ông Lê Đức T, người bị kiện UBND huyện T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Kim T1 đều thừa nhận thực tế từ trước đến nay ông Lê Hữu L1 (để lại thừa kế cho ông Lê Đức T) là người quản lý sử dụng và xây dựng nhà ở trên thửa đất số 363, tờ bản đồ số 06 (đo đạc năm 1993), theo bản đồ địa chính năm 2012 thì thuộc thửa đất số 470 và 471, tờ bản đồ số 29; Còn ông Nguyễn Kim T1 thì sử dụng thửa đất 360, tờ bản đồ số 06. Ông Nguyễn Kim T1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 360, tờ bản đồ số 06. Giữa ông Lê Hữu L1 (sau này là ông Lê Đức T) và ông Nguyễn Kim T1 không có tranh chấp về quyền sử dụng đất và vị trí đất 02 ông sử dụng nằm ở 2 vị trí khác nhau. Điều này cũng phù hợp với hồ sơ địa chính tại UBND xã A nên thuộc những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 79 Luật tố tụng hành chính.

[3.2] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/03/2024 thể hiện hiện trạng thửa đất 363, tờ bản đồ số 6 có 02 ngôi nhà (một ngôi nhà của ông Lê Đức T và 01 ngôi nhà của bà Lê Thị N (chị ruột của ông T) còn trên thửa đất 360 thì có ngôi nhà của ông Nguyễn Kim T1 đang ở. Như vậy, UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944 ngày 30/5/1996 cho ông Lê Hữu L1 đối với thửa đất số 360, tờ bản đồ số 6, diện tích 200m², mục đích sử dụng là đất nhà ở là không đúng vị trí, không đúng hiện trạng sử dụng đất.

[3.3] Mặc khác, trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện UBND huyện T cũng thừa nhận việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Hữu L1 (để lại thừa kế cho ông Lê Đức T) là cấp không đúng vị trí sử dụng đất và không đúng đối tượng.

[3.4] Mặc dù, ngày 06/8/2020 UBND huyện T có Quyết định số 3694/QĐ-UBND “V/v thu hồi thửa đất số 360 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, cấp cho ông Lê Hữu L1, thường trú thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên”. Nhưng theo Khoản 26 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ quy định: “Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai”.

Theo khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:...“d/ Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất,...”.

Như vậy, theo quy định nêu trên thì khi phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có sai sót thì nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp, chứ không quy định thu hồi thửa đất.

Đồng thời, từ khi ban hành Quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 06/8/2020 đến nay UBND huyện T không tiến hành các trình tự, thủ tục để thu hồi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để xem xét cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đức T (nhận thừa kế của ông Lê Hữu L1) làm ảnh hưởng đến các quyền sử dụng đất của ông Lê Đức T. Hiện tại ông Lê Đức T vẫn còn giữ bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện UBND huyện T có yêu cầu Tòa án xem xét Hủy Quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 06/8/2020. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của người khởi kiện cũng như đảm bảo bản án được thi hành đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải hủy Quyết định số 3694/QĐ-UBND “V/v thu hồi thửa đất số 360 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, cấp cho ông Lê Hữu L1, thường trú thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên” ngày 06/8/2020 của UBND huyện T và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944 ngày 30/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Hữu L1 (để lại thừa kế cho ông Lê Đức T) theo yêu cầu của người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện và đề nghị của vị Đại diện viện kiểm sát.

[4] Về án phí và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ; Người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, khoản 2 Điều 116, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 348 và Điều 358 của Luật tố tụng hành chính; điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013; khoản 5 Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; khoản 26 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai; Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đức T về các yêu cầu:

  • - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944 ngày 30/5/1996 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Lê Hữu L1 (để thừa kế lại cho ông Lê Đức T);
  • - Hủy Quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 06/8/2020 của UBND huyện T “V/v thu hồi thửa đất số 360 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 697944, cấp cho ông Lê Hữu L1, thường trú thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên”;
  • - Buộc UBND huyện T thực hiện trình tự, thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Đức T (nhận thừa kế từ ông Lê Hữu L1) theo đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả lại cho người khởi kiện ông Lê Đức T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm, đã nộp theo biên lai số 0000389 ngày 25/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc hiện trạng số tiền 6.000.000 đồng: Người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện T phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí đo vẽ hiện trạng. Do người khởi kiện đã nộp tạm ứng nên người bị kiện UBND huyện T phải hoàn trả cho ông Lê Đức T 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

Thời hạn, trình tự thủ tục thi hành và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện theo Nghị định 71/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Đà Nẵng (1);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên (1);
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV và THA; AV;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đậu Thị Quy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/HC-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 16/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khiếu kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger