|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 16/2024/DSST Ngày 02/8/2024 |
NHÂN DANH |
|
V/v “Tranh chấp chia thừa kế tài sản" |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- - Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Bình.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Kỹ, ông Trần Minh Phương.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Huyền Trang- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Đặng Thanh Minh- Chức vụ: Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 02/8/2024 tại trụ sở, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 37/2024/TLST- DS ngày 03 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp chia thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST- DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa:
- - Nguyên đơn: Bà Đào Thị T, sinh năm 1965, trú tại: Khu phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- - Bị đơn: Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1958, trú tại: Số B, T, phường Đ, TP T, tỉnh Bắc Ninh do chị Đào Thị Phương L, sinh năm 1979, trú tại: Số B, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đại diện ( theo giấy ủy quyền ngày 18/01/2024 có đơn xin vắng mặt).
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Đào Thị Phương L, sinh năm 1979, trú tại: Số B, T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh có đơn xin vắng mặt.
- Chị Đào Thị Hoàng Y, sinh năm 1981, trú tại: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh và anh Đào Đức T2, sinh năm 1984, trú tại: Số B T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh do chị Đào Thị Phương L, sinh năm 1979, trú tại: Số B T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đại diện theo giấy ủy quyền ngày 18/01/2024 có đơn xin vắng mặt).
- Bà Đào Thị Thu T3, sinh năm 1960 hiện đang cư trú tại: Cộng hòa Liên bang Đ ủy quyền cho bà Đào Thị T, sinh năm 1965, trú tại: Khu phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đại diện theo giấy ủy quyền ngày 03/4/2023 có mặt.
- Bà Đào Thị L1, sinh năm 1963, trú tại: Số D T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh có mặt.
- Bà Đào Thị H, sinh năm 1968 cùng 02 con là chị Nguyễn Lạc T4, sinh năm 1993 và anh Nguyễn Việt C, sinh năm 2004, đều trú tại: Số C T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (bà H có mặt, chị T4 và anh C có ý kiến đề nghị giải quyết vắng mặt)
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1963 và con trai là anh Đào Quốc D, sinh năm 1991, đều trú tại: 1 T, K, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (có ý kiến xin vắng mặt).
- Anh Lê Quốc S, sinh năm 1984, trú tại: Phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có ý kiến xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và ý kiến trình bày của các đương sự nội dung vụ án như sau:
-Nguyên đơn là bà T cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về về nguyên đơn là bà Đào Thị Thu T3, bà Đào Thị L1 trình bày: Bố, mẹ các bà là cụ Đào Văn S1, sinh năm 1924 (chết ngày 31/10/1970) và cụ Nguyễn Thị N, sinh năm 1928 (chết ngày 25/01/2000). Khi còn sống cụ S1, cụ N sinh được 06 người con chung gồm 02 nam và 4 nữ, cụ thể là:
- Ông Đào Hoàng H1 sinh năm 1951 (chết ngày 01/6/2000);
- Ông Đào Văn Đ, sinh năm 1955 (chết năm 1996);
- Bà Đào Thị Thu T3, sinh năm 1960 (đang ở CHLB Đ);
- Bà Đào Thị L1, sinh năm 1963;
- Bà Đào Thị T, sinh 1965;
- Bà Đào Thị H, sinh năm 1968.
Ngoài 06 người con như đã nêu hai cụ không có con riêng hay con nuôi nào khác. Trong 6 người con như đã nêu thì hiện nay 04 người con gái còn sống, 02 người con trai là ông H1 và ông Đ đều đã chết (ông H1 chết ngày 01/6/2000; Ông Đ chết năm 1996)
Khi ông H1 và ông Đ còn sống các ông đều có vợ con, cụ thể:
- - Ông H1 kết hôn với bà Ngô Thị T1 và có với nhau 03 người con chung là: chị Đào Thị Phương L, sinh năm 1979; Chị Đào Thị Hoàng Y, sinh năm 1981 và anh Đào Đức T2, sinh năm 1984.
- - Ông Đ kết hôn với bà Trần Thị M và có với nhau 02 con chung là anh Đào Quốc D1, sinh năm 1985 (chết năm 1995, khi chết D1 chưa có vợ con) và anh Đào Quốc D sinh năm 1991.
Ngoài những người con chung như đã nêu ông H1, ông Đ không còn có con riêng hay con nuôi.
Về tài sản khi cụ S1 và cụ N còn sống có tạo dựng được 01 thửa đất nay là thửa số 16, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc thực tế là 146,3m² có địa chỉ tại: Số C, khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và làm 01 ngôi nhà cấp 4 trên đất để gia đình sử dụng. Ngày 10/12/1996 cụ N được UBND tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Theo kết luận định giá đất có giá trị là: 10.019.794.000đ, tương đương 68.4883.000/m²; Nhà cấp 4 diện tích 43,2m², có giá trị là: 41.454.720đ). Năm 1970 cụ S1 chết không để lại di chúc, nhà đất do vợ chồng tạo dựng được do cụ N và các con sử dụng. Sau khi các con trưởng thành thoát ly và xây dựng gia đình, nhà đất do cụ N cùng con vợ chồng con gái út là bà Đào Thị H sử dụng. Quá trình sử dụng vào thời gian khoảng năm 2005 vợ chồng bà H và bà M (là vợ ông Đ và con dâu cụ N) có xây dựng nhà ở trên đất (vị trí xây dựng nhà nằm phía sau ngôi nhà cấp 4 do S1 và cụ N đã làm), cụ thể: Vợ chồng bà H làm ngôi nhà 2,5 tầng, diện tích xây dựng 96,3m² có giá trị theo kết luận định giá là: 228.137.469đ; Bà M xây ngôi nhà 2,5 tầng diện tích là: 126,6m² có giá trị theo kết luận định giá là 311.917.238đ.
Ngày 25/01/2000 cụ N do tuổi cao bệnh nặng qua đời, trước khi chết cụ N không lập di chúc phân chia di sản. Nhà, đất do 02 cụ để lại do vợ chồng bà H quản lý, sử dụng. Sau khi cụ N chết, các chị em trong gia đình có mời mẹ con bà M, mẹ con bà T1 đến nói chuyện để thống nhất việc phân chi di sản của cụ S1 và cụ N để lại nhưng bà bà T1 và các con của bà T1 không đồng ý, vì vậy bà T có đơn khởi kiện yêu cầu tòa án chia di sản thừa kế của cụ S1, cụ N để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33 có diện tích 146,3m² và ngôi nhà cấp 4 trên đất diện tích là 43,2m² cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật.
Bà Đào Thị H thừa nhận ý kiến trình bày của bà T, bà L1, bà T3 về quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống giữa người để lại di sản, người hưởng di sản cũng như di sản do cụ S1, cụ N để lại và tài sản do vợ chồng bà và tài sản do bà M đầu tư xây dựng trên thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 đứng tên cụ Nguyễn Thị N mẹ bà trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng, bà H nhất trí ý với yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà T. Ngoài nhất trí với yêu cầu chia thừa kế di sản do bố mẹ bà để lại như đã nêu, bà B H còn cho biết: Sau khi bố bà là cụ S1 chết, các anh chị đi xây dựng gia đình và đều ra ở riêng, còn lại bà là con út sống cùng với mẹ là cụ N tại: Nhà số C đường T, phường Đ, thành phố T, năm 1992 bà kết hôn với ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1969 (chết ngày 18/9/2005) và có với nhau 02 con chung là chị Nguyễn Lạc T4, sinh năm 1993 và anh Nguyễn Việt C, sinh năm 2004. Do điều kiện cụ N tuổi đã cao sức khỏe yếu nên vợ chồng bà sống cùng cụ N, trong thời gian sống cùng cụ N vợ chồng bà là người trực tiếp phụng dưỡng, chăm sóc cụ N. Sau khi cụ N chết, nhà và đất do vợ chồng bà trực tiếp quản lý và thực hiện nghĩa tài chính với nhà nước. Năm 2005 do ngôi nhà cấp 4 do bố mẹ làm xuống cấp nên vợ chồng bà có đầu tư xây dựng trên một phần diện tích thửa đất số 16 một ngôi nhà 2,5 tầng có diện tích xây dựng hơn 90m² (tiền xây dựng nhà ở do bà và ông V đầu tư các con không có đóng góp công sức, tiền bạc gì) và cùng vào thời gian đó bà M là vợ của ông Đ thời điểm đó đang sống ở Lạng Sơn cũng bỏ tiền đầu tư xây dựng 01 ngôi nhà 2,5 tầng trên phần diện tích đất còn lại của thửa đất số 16, sau khi làm xong nhà mẹ con bà M không sử dụng mà giao cho bà quản lý. Trong thời gian bà quản lý, sử dụng nhà, đất do vị trí nhà đất có mặt tiền giáp mặt phố nên bà có cho người khác thuê làm địa điểm kinh doanh và gần đây nhất vào năm 2023 bà cho cho anh Lê Quốc S là người Đồng Phúc, C, T thuê để kinh doanh xe đạp điện. Bà H đề nghị tòa án xem xét công lao quản lý, duy trì di sản cho cá nhân bà.
Bà T, bà T3, bà L1, bà H có chung ý kiến đề nghị tòa xem xét trích trả công sức quản lý tài sản của bà H và cùng đề nghị tòa án giao nhà đất tại thửa đất số 16 cho 04 chị em các bà để chị em có quyền đồng sở hữu chung và sử dụng làm nơi thờ cúng bố mẹ, ông bà, tổ tiên. Bà H đề nghị tòa án khi xem xét là tài sản chung thì xác định ngôi nhà 2,5 tầng diện tích xây dựng 96,3m² do vợ chồng bà đã đầu tư trên đất là tài sản riêng của gia đình bà.
Chị Nguyễn Lạc T4, anh Nguyễn Việt C trình bày: Anh, chị là con ông Nguyễn Thanh V và và Đào Thị H, nguồn gốc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 có địa chỉ tại: số C T, Đ, T, Bắc Ninh là do ông bà ngoại các anh chị để lại, còn ngôi nhà 2,5 tầng mà hiện nay mẹ các anh chị là bà H đang sử dụng có nguồn gốc do bố mẹ các anh, chị xây dựng, tiền đầu tư xây nhà là của bố mẹ đầu tư, các anh chị không có đóng góp công sức gì tiền bạc gì. Anh C, chị T4 đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.
Anh Lê Quốc S trình bày: Ngày 1/5/2003 anh có ký hợp đồng thuê của bà Đào Thị H ngôi nhà cấp 4 diện tích hơn 40m2 tại: Số C, T, Đ, T, Bắc Ninh để làm địa điểm kinh doanh, thời hạn thuê là 01năm, giá thuê: 12.000.000đ /tháng, phương thức thanh toán 4 tháng trả 01 lần. Quá trình thuê anh không đầu tư, cải tạo gì tài sản thuê, nay anh được Tòa án thông báo và triệu tập tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi liên quan anh thấy thời hạn thuê của anh cũng đã sắp hết, bản thân không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gì đến vụ kiện anh đề nghị Tòa án không đưa anh tham gia tố tụng, trường hợp Tòa án vẫn buộc anh phải tham gia tố tụng thì anh S xin được vắng mặt trong các buổi làm việc và vắng mặt tại các phiên tòa của Tòa án.
+ Bị đơn là bà T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị L, chị Y, anh T2 do chị Đào Thị Phương L đại diện trình bày: Nhất trí chia di sản của cụ S và cụ N để lại như yêu cầu khởi kiện của bà T, nguyện vọng của bà T1, chị L, anh T2, chị Y muốn nhận phần di sản do cụ S, cụ N để lại bằng giá trị.
+ Bà Trần Thị M và anh Đào Quốc D trình bày: Bà là vợ ông Đào Văn Đ, sinh năm 1954 (chết năm 1996) và là con dâu của cụ S, cụ N. Bà và ông Đ cùng sống với nhau như vợ chồng từ năm 1984 và có với nhau 02 con chung là anh Đào Quốc D1, sinh năm 1985 (chết năm 1995, khi chết anh D1 chưa có vợ con) và Đào Quốc D sinh năm 1991. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống và làm ăn tại thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Khi cụ N còn sống cụ có nói cho vợ chồng bà 1 thửa đất tại khu phố T, Đ, T Bắc Ninh để vợ chồng bà chuyển về sống cùng gia đình nhưng do điều kiện gia đình bà chưa có điều kiện chuyển về. Sau khi cụ N chết vào thời gian năm 2005 bà T là em ông Đ chồng bà có gọi bà về làm nhà trên đất và bà có bỏ tiền đầu tư xây một ngôi nhà 2,5 tầng trên thửa đất số 16, tờ bản đồ số 33, sau khi xây dựng xong nhà do bản thân vẫn đang làm ăn buôn bán tại Lạng Sơn nên nhà do bà đã tư xây dựng tại T bà giao cho em chồng là bà Đào Thị H quản lý. Bà M nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà T về việc chia thừa kế di sản của cụ S, cụ N cho những người thừa kế theo pháp luật, bà M đề nghị, khi chia di sản người nào được nhận di sản bằng hiện vật thì phải có nghĩa vụ trích trả cho bà giá trị ngôi nhà 2,5 tầng trên đất mà bà đã đầu tư. Đối với phần di sản của ông Đ được nhận mà con trai bà là anh D được thừa kế thế vị bà và anh D đề nghị được nhận bằng giá trị. Bà M, anh D có ý kiến xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và tại các phiên tòa do Tòa án tổ chức.
Quá trình chuẩn bị xét xử để đảm bảo việc giải quyết vụ án đúng pháp luật Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định và định giá đối với quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 đứng tên cụ Nguyễn Thị N trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh H cấp ngày 10/12/1996 theo quy định của pháp luật (có chứng thư thẩm định giá kèm theo).
Sau khi có kết quả thẩm định giá, căn cứ quy định của BLTTDS, đồng thời để các đương sự vắng mặt tại phiên thẩm định giá và tại phiên họp kiểm tra việc giao nhận, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tòa án cũng đã có văn bản thông báo kết quả cho các đương sự. Sau khi nhận được thông báo, bà M có ý kiến không đồng ý với kết luận thẩm định giá đối với ngôi nhà 2,5 tầng bà đã đầu tư trên đất. Tuy nhiên ngày 11/7/2024, Tòa án lại nhận ý kiến bằng văn bản của bà M và anh D đồng ý với kết luận thẩm định giá của Công ty thẩm định giá đã định giá đối với tài sản trên đất do bà đã đầu tư xây dựng.
Tại phiên tòa bà T, bà L1, bà H giữ nguyên và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà T, đề nghị tòa án chia di sản thừa kế của cụ S, cụ N để lại là quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 có diện tích đo đạc thực tế là 146,3m² và ngôi nhà cấp 4 diện tích 43,2m² có địa chỉ tại: Số nhà C T, phường Đ, thành phố T (do cụ N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1996) cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Các bà T, T3, L1, H đề nghị trước khi chia thừa kế di sản cần xem xét trích trả cho bà H công sức quản lý di sản và đều thống nhất đề nghị Tòa án giao và công nhận cho các bà có quyền đồng sở hữu chung đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 16 do bố mẹ để lại và các bà sẽ có trách nhiệm trích trả cho người thừa kế chuyển tiếp của ông H1 là bà T1, chị L, chị Y, anh T2 phần giá di sản của ông H1 được nhận theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm trích trả cho người thừa kế thế vị của ông Đ là anh D giá trị phần thừa kế di sản của ông Đ được nhận nếu còn sống, trích trả cho bà M giá trị thừa kế và giá trị còn lại của ngôi nhà bà M đã đầu tư xây dựng trên đất với số tiền theo như kết luận định giá. Bà H đề nghị Tòa án công nhận ngôi nhà 2,5 tầng do vợ chồng xây dựng trên đất là tài sản riêng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa chị L, bà M, anh D, anh S, anh C, chị T4 vắng mặt nhưng đều có đơn và ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, căn cứ theo quy định của BLTTDS hội đồng xét xử công bố công khai lời khai và ý kiến trình của các đương vắng mặt theo luật định.
Cũng tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đánh giá việc chấp hành và thực hiện pháp luật của Thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi liên quan là là tuân thủ đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 26, 35, 37, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 207, 210, 221, 609, 610, 611, 612, 613, 616, 623, 649, 650, 651, 652,660 Bộ luật dân sự; Điều 142 Luật Nhà ở, Điều 188 Luật đất đai; Khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị T về việc chia thừa kế di sản của cụ Đào Văn S1, Nguyễn Thị N để lại:
Xác nhận di sản thừa kế của cụ S1 và cụ N là quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 có diện tích 146,3m², được UBND tỉnh H cấp giấy CNQSD đất số 1693876 ngày 10/12/1996 mang tên cụ Nguyễn Thị N và ngôi nhà cấp 4 trên đất,tài sản có tổng giá trị là 10.061.248.720đ.
- Phân chia di sản thừa kế:
- + Bà Đào Thị T, bà Đào Thị Thu T3, bà Đào Thị L1 mỗi người được nhận tổng giá trị là 1.616.986.400đ.
- + Bà Đào Thị H được nhận tổng giá trị là: 2.215.870.252d.
- + Bà Trần Thị M được nhận giá trị 239.553.540đ; anh Đào Quốc D nhận giá trị 1.137.879.318đ.
- + Bà Ngô Thị T1, chị Đào Thị Phương L, chị Đào Thị Hoàng Y, anh Đào Đức T2 được nhận tổng giá trị 1.616.986.400đ.
Giao bà Đào Thị T, bà Đào Thị Thu T3, bà Đào Thị H và bà Đào Thị Lưu Đ1 sử dụng quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 có diện tích 146,3m² và sở hữu tài sản trên đất là ngôi nhà cấp 4 và ngôi nhà 2,5 tầng trên diện tích đất 126,6m².
Xác nhận ngôi nhà 2,5 tầng trên diện tích đất 96,6m² thuộc sở hữu của gia đình bà Đào Thị H.
- - Bà T, bà H, bà L1, bà T3 có nghĩa vụ liên đới trích trả cho bà T1, chị L, chị Y và anh T2 tổng số tiền là 1.616.986.400đ.
- - Bà T, bà H, bà L1, bà T3 có nghĩa vụ liên đới trích trả cho bà M số tiền 551.470.778đ; Trích trả anh D số tiền1.137.879.318₫.
Các đương sự có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí DSST cho bà T1, bà L1, bà T3, bà M do là người cao tuổi.
Các đương sự khác phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứu tài liệu đã được kiểm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Sau khi xem xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến trình bày và đề nghị của các đương sự, người đại diện của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
+ Về thủ tục tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến trình bày của người có quyền lợi liên quan đứng về phía nguyên đơn thấy: Bà Đào Thị T, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị Thu T3 và bà Đào Thị H đều xác định là con đẻ và là người được hưởng di sản của cụ Đào Văn S1, sinh năm 1924 (chết năm 1970) và cụ Nguyễn Thị N sinh năm 1928 (chết năm 2000) và các đương sự đều có chung yêu cầu đề nghị tòa án chia di sản do cụ S1, cụ N để lại theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 623 của BLDS quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế; Hướng dẫn số 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn nghiệp vụ xét xử; Khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 37, Điều 39 của BLTTDS quy định về thẩm quyền của tòa án theo loại việc, theo cấp tòa án và theo lãnh thổ, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp chấp giữa các bên là “Kiện đòi chia thừa kế”. Do vụ án có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị Thu T3 đang cư trú, làm việc ở CHLB Đức nên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa Chị L, bà M, anh D, anh S1, chị T4, anh C vắng mặt và đều có ý kiến đề nghị tào án giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của BLTTDS hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
+ Về nội dung vụ án: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Đào Thị T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là bà T3, bà L1, bà H, bà M, anh D; Bị đơn là bà T1 và người nguyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là chị L, chị Y, anh T2 do chị L đại diện đều thống nhất thừa nhận thửa đất số 16 tờ bản đồ 03 diện tích 146,3m² có giá trị 10.019.794.000đ và ngôi nhà cấp 4 trên đất có diện tích 43,2m², giá trị là: 41.454.720đ, với tổng giá trị là: 10.061.248.720đ là di sản do cụ S1 và cụ N tạo dựng được khi còn sống và để lại sau khi chết. Sau khi cụ S1, cụ N chết không để lại di chúc, còn các công trình xây dựng khác trên đất là tài sản riêng do vợ chồng bà H và do bà M đầu tư xây dựng. Xét các đương sự đều thừa nhận về nguồn gốc quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất và đều thống nhất quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03, diện tích 146,3m² và ngôi nhà cấp 4 trên đất diện tích 43,2m² là di sản do cụ S1, cụ N để lại chưa chia nên đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS.
Xét quan hệ hôn nhân giữa cụ S1 và cụ N, ông H1 với bà T1, ông Đ với bà M và quan hệ huyết thống giữa cụ S1 cụ N với ông H1, ông Đ, bà L1, bà T, bà T3, bà H; Quan hệ huyết thống giữa ông Đ với anh D và quan hệ huyết thống giữa ông H1 với chị L, chị Y, anh T2 là quan hệ vợ chồng và quan hệ cha, con, mẹ con hợp pháp.
Quá trình tố tụng các đương sự đều khẳng định cụ S1 và cụ N có 06 người con chung là ông H1, ông Đ, bà L1, bà T, bà T3, bà H, ngoài 06 người con chung như đã nêu hai cụ không có con riêng hay con nuôi nào khác. Các đương sự đều thống nhất thừa nhận di sản thừa kế do cụ S1 và cụ N để lại là thửa đất số 16 tờ bản đồ số 03, diện tích 149,9m² theo giấy chứng nhận nay đo đạc thực tế còn 146,3m² và ngôi nhà cấp 4 diện tích 43,2m² là tài sản do cụ S1 và cụ N để lại, các đương sự đều khẳng định về thời gian cụ S1, cụ N, ông H1, ông Đ chết. Do vậy có thể khẳng định cụ S1 và cụ N sau khi chết không lập di chúc định đoạt tài sản, tài sản do 02 cụ để lại như các hàng thừa kế trình bày là đúng và đây là tài sản chung của cụ S1 và cụ N.
Xét thời điểm mở thừa kế, diện, hàng thừa kế và quyền hưởng di sản của các thừa kế thấy:
- + Cụ Đào Văn S1, sinh năm 1924 (chết ngày 31/10/1970), trước khi chết cụ S1 không để lại di chúc định đoạt phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng cho những người thừa kế, vì vậy phần di sản của cụ S1 để lại trong khối tài sản chung của vợ chồng là 1/2 diện tích của thửa số 16, tờ bản đồ số 03, diện tích 149,9m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nay theo kết quả thẩm định tại chỗ còn 146,3m² và 1/2 diện tích của ngôi nhà cấp 4 diện tích 43,2m² trên đất, có địa chỉ tại: Số C, khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh có tổng giá trị là 5.030.624.360đ, trong đó đất là: 10.019.794.000đ: 2 = 5.009.897.000đ (tưng ứng 73,15m²đất), 1/2 giá trị ngôi nhà cấp 4 trên đất có giá trị là: 41.454.720đ : 2= 20.727.360đ, sẽ được chia đều cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ S1 còn sống vào thời điểm mở thừa kế là: Cụ N, ông H1, ông Đ, bà L1, bà T, bà T3, bà H (7 thừa kế), cụ thể mỗi thừa kế là cụ N, ông H1, ông Đ, bà L1, bà T, bà T3, bà H được nhận là: 5.030.624.360đ: 7= 718.660.622₫ (tương ứng mỗi thừa kế được nhận là 10,45m² đất và giá trị ngôi nhà có giá trị là: 2.961.051₫).
- + Sau khi cụ S1, mất năm 1996 con trai cụ Đào Văn S1 là ông Đào Văn Đ chết, ông Đ chết không để lại di chúc nên theo quy định của pháp luật phần di sản ông Đ được nhận từ di sản của cụ S1 sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Đ còn sống là: Cụ N, bà M và anh D ( 3 thừa kế), cụ thể Cụ N = Bà M = anh D, mỗi người được nhận phần di sản do ông Đ để lại có giá trị là: 718.660.622đ : 3= 239.553.540₫.
- + Năm 2000 cụ N chết không để lại di chúc, di sản của cụ N để lại là đất và giá trị ngôi nhà trên đất là: 5.030.624.360đ + 718.660.622 + 239.553.540= 5.988.838.522đ sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc hàng thứ nhất gồm: Ông H1, ông Đ, bà L1, bà T, bà H, bà T3 (do ông Đ chết trước cụ N nên phần di sản của ông Đ do người thừa kế thế vị là anh D nhận; Đối với phần di sản của ông H1 sẽ do những người thừa kế chuyển tiếp của ông H1 là bà T1, chị L, chị Y, anh T2 nhận).
Tuy nhiên xét công sức phụng dưỡng người để lại di sản và công sức quản lý di sản thấy: Sau khi bố chết, các anh chị em trưởng thành thoát ly gia đình, bà Đào Thị H là con út sống cùng cụ N, trong thời gian sống cùng cụ N bà H là người trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng cụ N, sau khi cụ N chết bà H là người trực tiếp quản lý di sản, tuy trong thời gian quản lý di sản bà H đã cho một số người khác trong đó có anh S1 thuê ngôi nhà cấp 4 để làm địa điểm kinh doanh và trực tiếp sử dụng tiền thuê, song để đảm bảo quyền lợi chính đáng cho bà H trước khi chia di sản của cụ N hội đồng xét xử thấy cần trích trả cho bà H 10% giá trị di sản do cụ N để lại là: 5.988.838.522d :10 = 598.883.852đ (tương đương 8,74m² đất). Như vậy sau khi trích trả công sức quản lý di sản cho bà H, di sản thừa kế của cụ N để lại còn gía trị là:5.988.838.522₫ - 598.883.852d = 5.389.954.670₫ (tương ứng 78,69m² đất) sẽ được chia cho những người thừa kế của cụ N là ông H1, bà T, bà L1, bà H, Bà T3 và người thừa kế thế vị của ông Đ là anh D, tương ứng mỗi kỷ phần được nhận là: 5.389.954.670₫ : 6 = 898.325.778₫.
Như vậy các thừa kế của cụ S1, cụ N được nhận kỷ phần thừa kế của cụ S1, cụ N để lại theo qui định của pháp luật như sau:
- Bà Đào Thị T, Bà Đào Thị Thu T3, Bà Đào Thị L1 mỗi người được nhận tổng giá trị di sản do cụ S1 và cụ N để lại là: 898.325.778đ + 718.660.622đ = 1.616.986.400đ.
- Bà Đào Thị H nhận tổng giá trị tài sản do cụ S1, cụ N để lại +, tiền công sức quản lý di sản là: 1.616.986.400đ + 598.883.852d = 2.215.870.252d.
- Bà M được nhận thừa kế do ông Đ để lại là: 239.553.540đ.
- Anh Duy với tư cách là người nhận thừa kế di sản của ông Đ để lại và nhận thừa kế thế vị đối với di sản của cụ N để lại với tổng giá trị di sản được nhận là: 239.553.540₫ +898.325.778đ = 1.137.879.318₫.
- Bà T1, chị L, chị Y, anh T5 với tư cách người được nhận thừa kế chuyển tiếp phần di sản mà ông H1 được do cụ S1 và cụ N để lại là: 898.325.778đ + 718.660.622đ = 1.616.986.400₫ (cụ thể mỗi người được nhận số tiền là: 1.616.986.400đ : 4 = 404.246.600₫).
Quá trình tố tụng bà M, anh D, bà T1, chị L, chị Y, anh T2 đều có chung nguyện vọng được nhận di sản thừa kế bằng giá trị. Những người thừa kế còn lại là bà T, bà T3, bà L1, bà H mong muốn nhận di sản thừa kế do bố mẹ là cụ S1, cụ N để bằng hiện vật bằng và đều có chung quan điểm thống nhất việc nhập phần di sản của mình được chia thành tài sản chung theo phần để cùng khai thác và sử dụng. Xét nguyện vọng của những người thừa kế như đã nêu là tự nguyện và phù hợp với đặc điểm, tính chất của di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và các công trình xây dựng trên đất thấy cần giao cho bà T, bà L1, Bà H, bà T3 được đồng sở hữu, đồng sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 có diện tích là 146,3m² và các công trình xây dựng trên đất là ngôi nhà cấp 4 diện tích 43,2m² và ngôi nhà 2,5 tầng diện tích 126,2m² do bà M xây dựng có địa chỉ tại: Số C Khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể: Bà Đào Thị T, Bà Đào Thị Thu T3 và bà Đào Thị L1 mỗi có quyền quản lý, sử dụng 34,39m², bà H có quyền sử dụng 43,13m² đất; Về tài sản trên trên đất: Xác nhận ngôi nhà cấp 4 diện tích 43,2m² và ngôi nhà 2,5 tầng diện tích 126,6m² là tài sản thuộc quyền sở hữu chung của bà H, bà T, bà T3 và bà L1, xác nhận ngôi nhà 2,5 tầng có diện tích xây dựng 96,6m² là tài sản riêng của gia đình bà Đào Thị H.
Về trách nhiệm: Do bà H, bà T, bà L1, bà T3 được giao quyền quản lý, sử dụng toàn bộ di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do vậy bà T, bà H, bà L1 và bà T3 phải có nghĩa vụ trích trả phần quyền hưởng di sản của những người thừa kế khác theo giá trị, đồng thời cũng phải trích trả giá trị ngôi nhà 2,5 tầng do bà Trần Thị M đã đầu tư xây dựng trên đất, cụ thể:
- - Bà T, bà H, bà L1, bà T3 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trích trích trả phần di sản thừa kế cho bà T1, chị L, chị Y và anh T2 với tổng số tiền là: 1.616.986.400đ (mỗi người phải có nghĩa vụ trích trả số tiền là 404.246.600₫ ).
- - Bà T, bà H, bà L1, bà T3 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trích trả phần di sản thừa kế được nhận và giá trị ngôi nhà 2,5 tầng diện tích 126,6m² nằm trên thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 cho bà M với tổng số tiền là: 239.553.540đ + 311.917.238đ = 551.470.778đ (mỗi người phải trích trả số tiền là: 137.867.649đ) và phải có nghĩa vụ trích trả cho anh Đào Quang D2 tổng số tiền là: 239.553.540đ + 898.883.852d = 1.137.879.318đ (mỗi người phải trích trả cho anh D2 số tiền là 284. 469.839₫).
- - Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ quyết định của bản án bà H, bà T, bà L1, bà T3 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kê khai quyền sở hữu tài sản và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định bà H, bà T, bà T3, bà L1, bà M, bà T1, anh D2, anh T2, chị L, chị Y phải chịu án phí DSST theo mức án phí có giá ngạch tương ứng với giá trị tài sản thừa kế được nhận. Tuy nhiên xét bà T1, bà M, bà T3, bà L1 đã đủ 60 tuổi nên căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số: 326/ NQ- UBTVQH14 về án, phí lệ phí. Hội đồng xét xử miễn số tiền án phí DSST phải nộp cho bà T1, bà L1, bà T3 và bà M.
Về chi phí đo đạc và thẩm định giá tài sản: Tại phiên tòa bà T yêu cầu những người thừa kế được nhận phần di sản thừa kế phải có nghĩa vụ trích trả lại cho bà số tiền 12.000.000đ tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá di sản mà bà đã ứng ra. Xét yêu cầu của bà T trích trả tiền chi phí tố tụng của bà T là phù hợp với các Điều 157, 158, 165, 166 của BLTTDS cần chấp nhận buộc bà H, bà T3, bà L1 mỗi người phải trích trả cho bà T 2.000.000đ; bà M và anh D2 phải trích trả cho bà T tổng số tiền là 2.000.000đ; bà T1, chị L, chị Y, anh T2 phải liên đới trích trả cho bà T 2.000.000đ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản Điều 38, khoản 1 Điều 39, Điều 143, 144, 146, 147, 151, 156, 157,165, 166, điểm b khoản 1 Điều 227, 228, 235, 271, 273 BLTTDS. Căn cứ Điều 33 Luật hôn nhân gia đình, Điều 207, 210, 213, 221, 609, 610, 611, 612, 613, 616, 617, 618, 623, 649, 650, 651, 652, 660 của BLDS; Điều 142 Luật nhà ở và Điều 166, 167, 188 của Luật đất đai, Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 20/12/6/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm án phí, lệ phí tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị T.
- Xác nhận quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 và ngôi nhà cấp 4 trên đất có diện tích 43,2m² đứng tên cụ Nguyễn Thị N trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND tỉnh H cấp ngày 10/12/1996 có tổng giá trị 10.061.248.720đ là di sản của cụ Đào Văn S1 và cụ Nguyễn Thị N để lại sau khi chết. Chia thừa kế di sản do cụ S1, cụ N cho các thừa kế với kỷ phần giá trị các thừa kế được nhận như sau:
- Bà Đào Thị T, bà Đào Thị Thu T3, bà Đào Thị L1 mỗi người được nhận phần giá trị di sản thừa kế là: 1.616.986.400₫.
- Bà Đào Thị H được nhận tổng giá trị tài sản là: 2.215.870,252đ, trong đó: Giá trị di sản thừa kế được nhận là: 1.616.986.400đ, tiền công sức quản lý, duy trì di sản là 598.883.852₫.
- Bà Trần Thị M được nhận tổng số tiền là: 551.470.778đ, trong đó giá trị di sản thừa kế được nhận là: 239.553.540đ, tiền trích trả giá trị tài sản là ngôi nhà 2,5 tầng có diện tích 126,6m² là: 311.917.238₫.
- Anh Đào Quang D2 được nhận phần di sản thừa kế với tổng số tiền là: 1.137.879.318₫.
- Bà Ngô Thị T1, chị Đào Thị Phương L, chị Đào Thị Hoàng Y, anh Đào Đức T2 là người thừa kế chuyển tiếp được nhận tổng số tiền là: 1.616.986.400đ, cụ thể mỗi người được nhận số tiền là: 1.616.986.400₫ :4 = 404.246.600đ.
- Giao cho bà Đào Thị T, bà Đào Thị L1, bà Đào Thị Thu T3 và bà Đào Thị H được đồng sở hữu, đồng sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 có diện tích là 146,3m² và các công trình xây dựng trên đất là ngôi nhà cấp 4 diện tích xây dựng là 43,2m² và ngôi nhà 2,5 tầng diện tích xây dựng là: 126,6m² có địa chỉ tại: Khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể: Bà Đào Thị T, Bà Đào Thị Thu T3 và bà Đào Thị L1 mỗi có quyền quản lý, sử dụng 34,39m², bà Đào Thị H có quyền sử dụng 43,13m² đất; Về công trình xây dựng trên trên đất: Xác nhận ngôi nhà cấp 4 diện tích 43,2m² và ngôi nhà 2,5 tầng diện tích 126,6m² là tài sản thuộc sở hữu chung của bà H, bà T, bà T3 và bà L1. Xác nhận ngôi nhà 2,5 tầng diện tích xây dựng 96,6m² là tài sản riêng của gia đình bà Đào Thị H.
- Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, căn cứ quyết định của bản án bà H bà T, bà L1, bà T3 có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kê khai quyền sở hữu tài sản và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
- Bà Đào Thị T, bà Đào Thị H, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị Thu T3 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán toàn trích trả phần di sản thừa kế được nhận cho bà T1, chị L, chị Y và anh T2 với tổng số tiền là: 1.616.986.400đ (cụ thể mỗi người phải có nghĩa vụ trích trả số tiền là: 1.616.986.400₫ :4 = 404.246.600₫).
- Bà Đào Thị T, bà Đào Thị H, bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị Thu T3 phải có nghĩa vụ liên đới trích trả phần di sản thừa kế được nhận và giá trị ngôi nhà 2,5 tầng diện tích 126,6m² nằm trên thửa đất số 16, tờ bản đồ số 03 cho bà Trần Thị M với tổng số tiền là: 551.470.778đ (cụ thể mỗi người phải trích trả cho bà M số tiền là: 137.867.649đ) và phải có nghĩa vụ trích trả cho anh Đào Quang D2 tổng số tiền là: 1.137.879.318đ (cụ thể mỗi người phải trích trả cho anh D2 số tiền là: 284. 469 839₫).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đào Thị T, bà Đào Thị H mỗi người phải chịu 60.509.500đ án phí DSST: Anh Đào Văn T6, chị Đào Thị Phương L, chị Đào Thị Hoàng Y mỗi người phải chịu 15.127.000 đ án phí DSST; Anh Đào Quang D2 phải chịu 46.136.000đ án phí DSST. Xác nhận bà Đào Thị T đã nộp 21.000.000đ là tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0003503 ngày 30/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sau khi đối trừ bà T còn phải nộp số tiền án phí còn lại là: 39.509.500₫.
- Miễn Án phí DSST cho bà Ngô Thị T1, bà Trần Thị M,bà Đào Thị L1 và bà Đào Thị Thu T3.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Bà H, bà L1, bà T3 mỗi người có nghĩa vụ trích trả cho bà T 2.000.000đ; Bà T1, chị L, chị Y, anh T6 có nghĩa vụ liên đới trích trả cho bà T 2.000.000đ; Bà M, anh D2 có nghĩa vụ liên đới trích trả cho bà T 2.000.000₫.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự là bà T1, bà M, chị L, anh T6, anh C, chị T4, chị Y, anh S1, anh D2 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Đỗ Thế Bình |
Bản án số 16/2024/DSST ngày 02/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 16/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế giữa Nguyên đơn là Bà Đào Thị Thanh, sinh năm 1965 và Bị đơn: Bà Ngô Thị Tình, sinh năm 1958
