Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 16/2024/DS-ST

Ngày: 25 – 4 – 2024

V/v Hợp đồng vay tài sản; Hợp

đồng thế chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phú Anh Lân
  2. Ông Phạm Ngọc Minh

Thư ký phiên tòa: Ông Đổng Mây Hồng Tuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền – Kiểm sát viên.

Ngày 25/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 30/2023/TLST-DS ngày 13/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QÐST-DS ngày 08/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QÐST-DS, ngày 29/3/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N1.

Địa chỉ: Số B C, Phường D, Quận C, TP .

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngô Phúc V – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc T – Tổng giám đốc (Quyết định số 01A/2023/QĐQT-NHNA ngày 03/01/2023 của Chủ tịch Hộng đồng quản trị). Ông T ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn Quốc H – Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 chi nhánh N2 (Quyết định số 07A/2023/QĐ-NHNA-01 ngày 03/01/2023). Ông H ủy quyền lại cho ông Đinh Gia H1 – Nhân viên hỗ trợ kinh doanh, Ngân hàng thương mại cổ phần N1 chi nhánh N2 tham gia tố tụng (Giấy ủy quyền số 265/2023/UQ-NHNA-N.Thuận ngày 23/02/2023). Địa chỉ: D đường A, phường T, Tp , tỉnh Ninh Thuận. (Có mặt)

2. Bị đơn: Bà Kiều Thị Á, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 03/3/2023, cũng như tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 ông Đinh Gia H1 trình bày:

Bà Kiều Thị Á có vay vốn với Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh N2, chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số 1193/2022/414-TD-CV ngày 28/07/2022, số tiền vay 465.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm sáu mươi lăm triệu đồng), thời hạn hợp đồng đến ngày: 28/07/2023. Mục đích vay tiêu dùng, mua đồ dùng trang thiết bị gia đình trong nước. Lãi suất là 11.5%/năm và lãi suất sẽ do N3 quyết định điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính theo công thức: Từ ngày 28/10/2022 đến ngày 28/07/2023: Lãi suất điều chỉnh bằng (=) lãi suất cơ sở chuần ngắn hạn (%năm) cộng (+) 3.8%năm. Trong đó lãi suất cơ sở chuẩn do N3 công bố hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiền là ngày 28/10. Phương thức trả nợ: Ngày 28 định kỳ 01 tháng/lần trả lãi vay, ngày trả lãi đầu tiên là 28/08/2022. Dư nợ gốc được hoàn trả một lần vào ngày 28/07/2023.

Tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay này bao gồm 02 thửa đất là:

  • Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 16. Mục đích sử dụng: đất trồng cây hàng năm khác. Tổng diện tích 11.888 m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: BU 511007, số vào sổ cấp GCN: CH 00820 do UBND huyện N cấp ngày 03/06/2014 bằng hợp đồng thế chấp số 0053/2022/414-BĐ ký ngày 28/07/2022 được công chứng ngày 28/07/2022, số công chứng 3310- quyển số 01/2022/TP/CC/SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/07/2022 tại Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện N.
  • Thửa đất số 285, tờ bản đồ số 10a. Mục đích sử dụng: 240m2 đất ở tại nông thôn, 58.6m2 đất nông nghiệp khác. Tổng diện tích 298.6 m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CG 352486, số vào sổ cấp GCN: CS 03102 do Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh N cấp ngày 23/06/2017 bằng hợp đồng thế chấp số 0956/2022/414-TD-BĐ ký ngày 28/07/2022 được công chứng ngày 28/07/2022, số công chứng 3109- quyển số 01/2022/TP/CC/SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/07/2022 tại Văn phòng đăng ký đất đaia Ninh Thuận – Chi nhánh huyện N.

Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đầu tiên đến nay Bà Kiều Thị Á không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không có thiện chí trả nợ. Đối với khế ước của giấy nhận nợ 400.000.000 đồng, bà Kiều Thị Á chỉ thanh toán 7.813.698 đồng tiền lãi và 17.255 đồng tiền phạt và không thanh toán tiền gốc. Đối với khế ước của giấy nhận nợ 65.000.000 đồng, bà Kiều Thị Á chỉ thanh toán 1.269.726 đồng tiền lãi và 3.130 đồng tiền phạt và không thanh toán tiền gốc.

Do Bà Kiều Thị Á vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh N2 đã chuyển toàn bộ hồ sơ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.

Dư nợ của khoản vay tính đến ngày 25/04/2024 của giấy nhận nợ số: 01/GNN/1193/2022/414-TD-CV ký ngày 28/07/2022 là: 520.794.380 đồng (Năm trăm hai mươi triệu bảy trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm tám mươi đồng).

  • Nợ gốc: 400.000.000 đồng
  • Nợ lãi trong hạn: 46.423.011đồng
  • Nợ lãi quá hạn: 69.304.110 đồng
  • Lãi phạt chậm trả: 5.067.259 đồng

Dư nợ của khoản vay tính đến ngày 25/04/2024 của giấy nhận nợ số: 02/GNN/1193/2022/414-TD-CV ký ngày 28/07/2022 là: 84.604.281 đồng (T1 mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn hai trăm tám mươi mốt đồng).

  • Nợ gốc: 65.000.000 đồng
  • Nợ lãi trong hạn: 7.543.741đồng
  • Nợ lãi quá hạn: 11.261.918 đồng
  • Lãi phạt chậm trả: 798.622 đồng

Tổng cộng các khoản gốc lãi của khoản vay đến ngày 25/04/2024 là: 605.398.661 đồng

Việc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết, kế hoạch trả nợ với Ngân hàng TMCP N1 của bà Kiều Thị Á đã vi phạm các điều khoản cam kết trong hợp đồng tín dụng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP N1. Chính vì những lý do trên, với tư cách là nguyên đơn Ngân hàng TMCP N1 kính đề nghị Quý Tòa xem xét, giải quyết các yêu cầu sau:

Tuyên buộc bà Kiều Thị Á có nghĩa vụ phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP N1 toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã ký, tổng số tính đến ngày 25/04/2024 là: 605.398.661 đồng. Trong thời gian chưa thanh toán nợ, bà Kiều Thị Á vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi phạt theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày tiếp theo cho đến khi thanh toán hết nợ.

Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp nêu trên giữa bà Kiều Thị Á và Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh N2 để đảm bảo cho việc thi hành án.

Đối với bị đơn là bà Kiều Thị Á: Sau khi thụ lý vụ án, để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của bị đơn, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định pháp luật. Tuy nhiên bà Á không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến trình bày về nội dụng vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án dân sự đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt hợp lệ đúng quy định của pháp luật và tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS là có căn cứ.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Kiều Thị Á phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử, ngày 25/4/2024 là 605.398.661 đồng và tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số 0053/2022/414-BĐ và số 0956/2022/414-TD-BĐ ngày 28/02/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và bà Kiều Thị Á để đảm bảo việc thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Giữa Ngân hàng TMCP N1 với bà Kiều Thị Á có ký hợp đồng tín dụng từng lần số 1193/2022/414-TD-CV, ngày 28/7/2022 vay số tiền 465.000.000 đồng và có thế chấp tài sản quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số 0053/2022/414-BĐ và số 0956/2022/414-TD-BĐ ngày 28/02/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và bà Kiều Thị Ánh . Vì vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền.

Đối với bị đơn là bà Kiều Thị Ánh . Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nhưng bà Á vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Á theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung khởi kiện: Nguyên đơn – Ngân hàng TMCP N1 đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện có nội dung: Buộc bà Kiều Thị Á phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử, ngày 25/4/2024 là 605.398.661 đồng, trong đó:

Dư nợ của khoản vay tính đến ngày 25/04/2024 của giấy nhận nợ số: 01/GNN/1193/2022/414-TD-CV ký ngày 28/07/2022 là: 520.794.380 đồng (Năm trăm hai mươi triệu bảy trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm tám mươi đồng). Trong đó: Nợ gốc: 400.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 46.423.011đồng; Nợ lãi quá hạn: 69.304.110 đồng; Lãi phạt chậm trả: 5.067.259 đồng.

Dư nợ của khoản vay tính đến ngày 25/04/2024 của giấy nhận nợ số: 02/GNN/1193/2022/414-TD-CV ký ngày 28/07/2022 là: 84.604.281 đồng (T1 mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn hai trăm tám mươi mốt đồng). Trong đó: Nợ gốc: 65.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 7.543.741đồng; Nợ lãi quá hạn: 11.261.918 đồng; Lãi phạt chậm trả: 798.622 đồng.

Tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 26/4/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng tín dụng. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số 0053/2022/414-BĐ và số 0956/2022/414-TD-BĐ ngày 28/02/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và bà Kiều Thị Á để đảm bảo việc thi hành án.

[2.1] Xét hợp đồng tín dụng từng lần số 1193/2022/414-TD-CV, ngày 28/7/2022 giữa Ngân hàng TMCP N1 với bà Kiều Thị Ánh . Nội dung thể hiện bà Á có vay Ngân hàng Thương Mại cổ phần N1 số tiền vay 465.000.000 đồng. Đây là giao dịch có chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Nên hợp đồng được ký kết giữa ông bà Kiều Thị Á với Ngân hàng TMCP N1, ngày 28/7/2022 có hiệu lực pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng bà Kiều Thị Á vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 4 của hợp đồng tín dụng từng lần số 1193/2022/414-TD-CV, ngày 28/7/2022 và Mục 9 của giấy nhận nợ số 01, 02/GNN-1193/2022/414-TD-CV ngày 28/7/2022. Ngày 07/10/2022 bà Kiều Thị Á vi phạm nghĩa vụ trả nợ và ngày 28/7/2023 Ngân hàng TMCP N1 đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn mục 8, và mục 20 Điều 6 của hợp đồng tín dụng từng lần số 1193/2022/414-TD-CV, ngày 28/7/2022. Tính đến nay đối với khế ước của giấy nhận nợ 400.000.000 đồng, bà Kiều Thị Á chỉ thanh toán 7.813.698 đồng tiền lãi và 17.255 đồng tiền phạt và không thanh toán tiền gốc; đối với khế ước của giấy nhận nợ 65.000.000 đồng, bà Kiều Thị Á chỉ thanh toán 1.269.726 đồng tiền lãi và 3.130 đồng tiền phạt và không thanh toán tiền gốc.

Như vậy việc bà Kiều Thị Á có ký hợp đồng tín dụng từng lần với Ngân hàng TMCP N1 và tính đến thời điểm ngày 25/4/2024 số tiền còn nợ tổng cộng 605.398.661 đồng là có thật. Nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP N1 đề nghị bị đơn là bà Kiều Thị Á phải trả số tiền còn nợ nói trên và tiếp tục phải chịu lãi suất theo hợp đồng đã ký là có căn cứ, có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét 02 Hợp đồng thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ số 0053/2022/414-BĐ và số 0956/2022/414-TD-BĐ ngày 28/02/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và bà Kiều Thị Á được Văn P công chứng Trần Thị Minh N chứng thực. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 11.888m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 16 tại thôn N, P, N, Ninh Thuận được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 511007 ngày 03/6/2014 cho bà Kiều Thị Á và quyền sử dụng đất diện tích 298,6m2 (đất ở nông thôn 240m2; đất nông nghiệp khác 58,6m2) thuộc thửa đất số 285, tờ bản đồ số 10a tại thôn H, P, N, Ninh Thuận được Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 352486 ngày 23/6/2017 cho bà Kiều Thị Ánh . Vì vậy, bà Á được quyền thế chấp tài sản để vay vốn ngân hàng theo quy định tại Điều 167 và Điều 188 Luật đất đai 2013, đất không có tranh chấp, không bị kê biên đảm bảo thi hành án và trên thực tế để đảm bảo vốn vay bà Á đã dùng quyền sử dụng đất của mình thế chấp cho ngân hàng. Việc thế chấp quyền sử dụng đất được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đ chi nhánh N theo quy định Thông tư 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT, ngày 23/6/2016 cũng như Nghị định số 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm. Nên hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và bà Kiều Thị Á có hiệu lực pháp luật.

Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về chi phí xem xét thẩm định: Chi phí xem xét thẩm định số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) do Ngân hàng thương mại cổ phần N1 nộp tạm ứng. HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu phí xem xét thẩm định. Buộc bà Kiều Thị Á phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

[4] Về án Phí: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, nên bị đơn phải chịu án phí DSST theo khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Cụ thể: 20.000.000 đồng + 4% (của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng) 205.398.661 đồng = 28.216.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 117, 317, 318, 319, 323, 325, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng; Nghị định số 102/2017/NĐ-CP, ngày 01/9/2017 của Chính Phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N1. Buộc bà Kiều Thị Á phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử, ngày 25/4/2023 là 605.398.661 đồng (Sáu trăm linh năm triệu, ba trăm chín mươi tám ngàn, sáu trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó:

    Dư nợ của khoản vay tính đến ngày 25/04/2024 của giấy nhận nợ số: 01/GNN-1193/2022/414-TD-CV ký ngày 28/07/2022 là: 520.794.380 đồng (Năm trăm hai mươi triệu bảy trăm chín mươi bốn nghìn ba trăm tám mươi đồng).

    • Nợ gốc: 400.000.000 đồng
    • Nợ lãi trong hạn: 46.423.011đồng
    • Nợ lãi quá hạn: 69.304.110 đồng
    • Lãi phạt chậm trả: 5.067.259 đồng

    Dư nợ của khoản vay tính đến ngày 25/04/2024 của giấy nhận nợ số: 02/GNN/1193/2022/414-TD-CV ký ngày 28/07/2022 là: 84.604.281 đồng (T1 mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bốn nghìn hai trăm tám mươi mốt đồng).

    • Nợ gốc: 65.000.000 đồng
    • Nợ lãi trong hạn: 7.543.741đồng
    • Nợ lãi quá hạn: 11.261.918 đồng
    • Lãi phạt chậm trả: 798.622 đồng

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (26/4/2024) bà Á còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng từng lần cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

  2. Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 0053/2022/414-BĐ và số 0956/2022/414-TD-BĐ ngày 28/02/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần N1 và bà Kiều Thị Á đối với tài sản gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 11.888m2 thuộc thửa đất số 42, tờ bản đồ số 16 tại thôn N, P, N, Ninh Thuận được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BU 511007 ngày 03/6/2014 cho bà Kiều Thị Á và quyền sử dụng đất diện tích 298,6m2 (đất ở nông thôn 240m2; đất nông nghiệp khác 58,6m2) thuộc thửa đất số 285, tờ bản đồ số 10a tại thôn H, P, N, Ninh Thuận được Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 352486 ngày 23/6/2017 để đảm bảo cho việc thi hành án.
  3. Về chi phí xem xét thẩm định: Buộc bà Kiều Thị Á phải có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền. Nếu bên phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Kiều Thị Á phải chịu 28.216.000 đồng (Hai mươi tám triệu hai trăm mười sáu ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.774.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm bảy mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai thu số 0002995, ngày 10/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/4/2024); bị đơn vắng mặt hạn kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKSND Ninh Phước;
  • - Chi cục THADS Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Cường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

Phạm Xuân Thành Trần Thị H2

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Vũ Văn C

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về hợp đồng vay tài sản; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 16/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hợp đồng vay tài sản; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger