|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU Bản án số: 16/2022/HS-PT Ngày 29 - 3 - 2022 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Văn Mỹ
Các Thẩm phán: Ông Trần Quang Khang
Bà Tăng Trần Quỳnh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Trấn Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thụ Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2022/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo Lâm Thanh H cùng đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 108/2021/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Lâm Thanh H, sinh năm 1982; Tên gọi khác: Cu; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số A/BK, khóm TK.B, Phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Văn Ch, sinh năm 1934 (đã chết) và bà Thái Kim L, sinh năm 1943; Vợ Trịnh Ngọc Q, sinh năm 1983; Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 24/7/2020 đến ngày 01/8/2020 cho tại ngoại đến nay. “có mặt”
- Ngô Phước H1, sinh năm 1974; Tên gọi khác: Tèo; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Khóm A, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Kim Ch1, sinh năm 1946 (đã chết); Con bà Trương Thị B, sinh năm 1948; Vợ Trần Kim Ph, sinh năm 1972; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”
- Trần Kim H2, sinh năm 1972; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số D/PL, khóm TK.B, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Kim L1, sinh năm 1942 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1944 (đã chết); Vợ Tạ Bích H3, sinh năm 1974; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1997, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”
- Tăng Thị Kiều O, sinh năm 1967; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Khóm TK.B, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tăng Văn B1, sinh năm 1940 và bà Lâm Thị T3, sinh năm 1948; Chồng Hồ Văn N, sinh năm 1969; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”
- Lư Thị Mỹ D, sinh năm 1985; Tên gọi khác: Gi; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số SGZ, khóm TK, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lư Văn T4, sinh năm 1964 và bà Lâm Thị Thu H4, sinh năm 1965; Chồng Châu Minh T5, sinh năm 1984; Con Châu Minh Th, sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”
- Trần Văn T, sinh năm 1969; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; ĐKHKTT: Số BNV, khóm T, phường K, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số XC, khóm A, phường T, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L2, sinh năm 1947 (đã chết) và bà Trần Thị T6, sinh năm 1950; Vợ Trần Thị Mỹ L3, sinh năm 1969; Con Trần Quỳnh Tr, sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”
- Đoàn Thị Kim Th, sinh năm 1977; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số KLK/X, khóm R, phường R, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Văn Q1 sinh năm 1939 (đã chết) và bà Bùi Thị H5, sinh năm 1944 (đã chết); Chồng Lê Hoàng S, sinh năm 1968; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “có mặt”
- Trương Văn T1, sinh năm 1992; Nơi sinh: Thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nơi cư trú: Số RR/ABB, Khóm TK.B, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn H6, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ch2, sinh năm 1969; Vợ Huỳnh Ngọc N, sinh năm 1989; Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại “vắng mặt”
Các bị cáo không kháng cáo:
- Hồ Văn T2, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số AG/L, khóm B, phường K, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Nguyễn Thị D2, sinh năm 1951; Nơi cư trú: Số AFC/C, khóm B, phường K, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì muốn kiếm thêm thu nhập, Ngô Phước H1 cho Lâm Thanh H sử dụng căn nhà số SS, đường Võ Thị Sáu, Khóm A, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu của H1 để tổ chức cho người khác đánh bạc. H có trách nhiệm rủ rê những người đánh bạc đến nhà của H1 tham gia đánh bạc; còn H1 có nhiệm vụ canh gác và bán thức ăn cho người đánh bạc.
Hình thức H tổ chức đánh bạc là đánh bài binh sáu lá (hay gọi là binh Ấn Độ), người đánh bạc sử dụng bộ bài tây nhưng bỏ các quân bài J, Q và K ra, chỉ sử dụng các lá bài có nút từ 1 đến 10. Hình thức đánh bạc gồm một tụ nhà cái và ba tụ đặt, các tụ đặt thắng thua trực tiếp với tụ nhà cái, những người không ngồi tụ thì ké tụ đặt hoặc thạnh nhà cái. Sau khi binh xong, nhà cái xét bài để tính thắng thua với người đánh bạc. Mỗi ván bài, ai thắng phải bỏ tiền xâu vào cái hộp giấy do H chuẩn bị sẵn số tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng.
Khoảng 11 giờ ngày 23/7/2020, H tổ chức và cùng tham gia đánh bạc với Trần Kim H2, Trương Văn T1, Nguyễn Thị D2, Trần Văn T tại nhà của H1 ở địa chỉ nói trên. Một lúc sau, Tăng Thị Kiều O, Lư Thị Mỹ D, Hồ Văn T2, Đoàn Thị Kim Th lần lượt chạy xe đến để đánh bạc thì H1 mở cửa dẫn vào. Trong lúc chơi đánh bạc, H vừa đánh bạc vừa phục vụ ăn, uống cho những người tham gia đánh bạc khác còn H1 ngồi trước nhà canh gác. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu vào bắt quả tang các đối tượng nêu trên đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 2.670.000đ; xung quanh chiếu bạc số tiền 5.800.000đ, thu giữ trên người các đối tượng số tiền 137.560.000đ và các tang vật có liên quan.
Qua điều tra, cấp sơ thẩm đã xác định tổng số tiền mà Lâm Thanh H, Lư Thị Mỹ D, Đoàn Thị Kim Th, Trương Văn T1, Hồ Văn T2, Trần Kim H2, Trần Văn T, Tăng Thị Kiều O và Nguyễn Thị D2 đã dùng và sẽ dùng vào việc đánh bạc 38.570.000 đồng.
Về vật chứng của vụ án: thu giữ nhiều điện thoại di động; 539 lá bài tây; số tiền 135.810.000 đồng đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo quy định.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, Lâm Thanh H, Ngô Phước H1, Lư Thị Mỹ D, Nguyễn Thị D2, Tăng Thị Kiều O, Trần Văn T, Trần Kim H2, Hồ Văn T2, Trương Văn T1 và Đoàn Thị Kim Th thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 108/2021/HS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lâm Thanh H (tên gọi khác: Cu) phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.
Căn cứ Điều 17, khoản 1 Điều 321 và điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lâm Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”; Xử phạt Lâm Thanh H 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội đối với Lâm Thanh H là 02 (hai) năm 01 (một) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, nhưng được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam trước đó từ ngày 24/7/2020 đến ngày 01/8/2020.
2. Tuyên bố bị cáo Ngô Phước H1 (Tên gọi khác: Tèo) phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ Điều 17, điểm c, d khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Ngô Phước H1 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Tuyên bố các bị cáo Lư Thị Mỹ D (tên gọi khác: Giàu), Tăng Thị Kiều O, Trần Kim H2, Trần Văn T, Nguyễn Thị D2, Hồ Văn T2, Trương Văn T1 và Đoàn Thị Kim Th phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Lư Thị Mỹ D 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Tăng Thị Kiều O 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Kim H2 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn T 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Hồ Văn T2 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trương Văn T1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đoàn Thị Kim Th 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự; điểm i, s, o khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị D2 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 06/12/2021).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo nộp đúng về thể thức và thời hạn cho nên Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp với quy định tại Điều 344 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[4] Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm đã quyết định số tiền mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là chưa chính xác, do đó cấp phúc thẩm xem xét lại nhằm đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật, cụ thể: số tiền bắt trên chiếu bạc và xung quanh chiếu bạc là 8.470.000đ; ngoài ra còn chứng minh được số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc: O sử dụng số tiền 2.200.000đ; D2 sử dụng số tiền 700.000đ; T1 sử dụng số tiền 300.000đ; H sử dụng số tiền 500.000đ; D sử dụng số tiền 1.050.000đ; Th sử dụng 500.000đ; T2 sử dụng 6.000.000đ; riêng đối với Trần Kim H2 thì quá trình điều tra bị cáo khai nhận sử dụng số tiền 13.200.000đ vào việc đánh bạc, quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm bị cáo cho rằng bị cáo chỉ sử dụng số tiền 3.200.000đ vào việc đánh bạc, còn số tiền 10.000.000đ bị cáo để riêng – đây là tiền của vợ chồng dùng vào việc mua bán không có liên quan đánh bạc, nếu thua hết 3.200.000đ thì sẽ dùng số tiền 10.000.000đ vào việc đánh bạc; xét thấy việc chứng minh tội phạm là trách nhiệm của cơ quan điều tra, nhưng vấn đề này chỉ có lời khai của bị cáo, ngoài ra không còn chứng cứ chứng minh bị cáo đã sử dụng số tiền 13.200.000đ vào việc đánh bạc. Do đó, cấp sơ thẩm quy kết số tiền 10.000.000đ mà bị cáo H2 sẽ tham gia đánh bạc là không đúng theo quy định của pháp luật hình sự, mà có căn cứ chấp nhận bị cáo đã dùng 3.200.000đ vào việc đánh bạc. Như vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 22.920.000đ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của Lâm Thanh H, Ngô Phước H1, Lư Thị Mỹ D, Tăng Thị Kiều O, Trần Văn T và Đoàn Thị Kim Th; không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trương Văn T1.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm d khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Kim H2 về số tiền chịu trách nhiệm hình sự; không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Trần Kim H2.
Giữ nguyên hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 108/2021/HSST ngày 06/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bạc Liêu (02 bản); - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Bạc Liêu (01 bản); - TAND TP. Bạc Liêu (08 bản); - CQĐT TP. Bạc Liêu (01 bản); - Chi cục THA dân sự TP. Bạc Liêu (01 bản); - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu (1 bản); - Bị cáo (01 bản); - Lưu: HS, THS, THCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Văn Mỹ |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Quang Khang Tăng Trần Quỳnh Phương |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Văn Mỹ |
Bản án số 16/2022/HS-PT ngày 29/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 16/2022/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/03/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vì muốn kiếm thêm thu nhập, Ngô Phước H1 cho Lâm Thanh H sử dụng căn nhà số SS, đường Võ Thị Sáu, Khóm A, phường X, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu của H1 để tổ chức cho người khác đánh bạc. H có trách nhiệm rủ rê những người đánh bạc đến nhà của H1 tham gia đánh bạc; còn H1 có nhiệm vụ canh gác và bán thức ăn cho người đánh bạc. Hình thức H tổ chức đánh bạc là đánh bài binh sáu lá (hay gọi là binh Ấn Độ), người đánh bạc sử dụng bộ bài tây nhưng bỏ các quân bài J, Q và K ra, chỉ sử dụng các lá bài có nút từ 1 đến 10. Hình thức đánh bạc gồm một tụ nhà cái và ba tụ đặt, các tụ đặt thắng thua trực tiếp với tụ nhà cái, những người không ngồi tụ thì ké tụ đặt hoặc thạnh nhà cái. Sau khi binh xong, nhà cái xét bài để tính thắng thua với người đánh bạc. Mỗi ván bài, ai thắng phải bỏ tiền xâu vào cái hộp giấy do H chuẩn bị sẵn số tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Khoảng 11 giờ ngày 23/7/2020, H tổ chức và cùng tham gia đánh bạc với Trần Kim H2, Trương Văn T1, Nguyễn Thị D2, Trần Văn T tại nhà của H1 ở địa chỉ nói trên. Một lúc sau, Tăng Thị Kiều O, Lư Thị Mỹ D, Hồ Văn T2, Đoàn Thị Kim Th lần lượt chạy xe đến để đánh bạc thì H1 mở cửa dẫn vào. Trong lúc chơi đánh bạc, H vừa đánh bạc vừa phục vụ ăn, uống cho những người tham gia đánh bạc khác còn H1 ngồi trước nhà canh gác. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu vào bắt quả tang các đối tượng nêu trên đang có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 2.670.000đ; xung quanh chiếu bạc số tiền 5.800.000đ, thu giữ trên người các đối tượng số tiền 137.560.000đ và các tang vật có liên quan.
