Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 16/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 12-8-2022

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Hội;

Ông Đào Hồng Kiệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Hồng Tân – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 12 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị T, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Châu Văn Nhiều N, sinh năm 1969.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp.

(Tại phiên tòa bà T, ông Nhiều N vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Lời trình bày của nguyên đơn Nguyễn Thị T: Năm 1989, bà T và ông Nhiều N yêu thương nhau, được hai bên gia đình chấp thuận và tổ chức lễ cưới cho bà T và ông Nhiều N về chung sống với nhau, sau khi cưới nhau bà T và ông Nhiều N sống chung ở ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp đến đầu năm 2022 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống bà T và ông Nhiều N có 04 con chung tên Châu Thành N, sinh năm 1992, Châu Kim N, sinh năm 1995, Châu Thị Cẩm N, sinh năm 1996 và Châu Phú Q, sinh năm 2002, hiện nay các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động. Bà T và ông Nhiều N chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bất đầu nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, không thể hòa thuận được nên bà T đã ly thân với ông Nhiều N từ đầu năm 2022 đến nay, trong thời gian ly thân thì bà T và ông Nhiều N cũng không có hàn gắn lại được tình cảm. Nhận thấy có hàn gắn sống chung lại với ông Nhiều N cũng không hạnh phúc nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Châu Văn Nhiều N.
  • - Về con chung: 04 con chung tên Châu Thành N, sinh năm 1992, Châu Kim N, sinh năm 1995, Châu Thị Cẩm N, sinh năm 1996 và Châu Phú Q, sinh năm 2002 hiện nay đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời trình bày của bị đơn Châu Văn Nhiều N: Năm 1989, ông Nhiều N và bà T yêu thương nhau, được hai bên gia đình chấp thuận và tổ chức lễ cưới cho ông Nhiều N và bà T về chung sống với nhau, sau khi cưới nhau ông Nhiều N và bà T sống chung ở ấp A, xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp đến đầu năm 2022 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống ông Nhiều N và bà T có 04 con chung tên Châu Thành N, sinh năm 1992, Châu Kim N, sinh năm 1995, Châu Thị Cẩm N, sinh năm 1996 và Châu Phú Q, sinh năm 2002, hiện nay các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động. Ông Nhiều N và bà T chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bất đầu nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nhiều vấn đề trong cuộc sống, sống chung với nhau không hạnh phúc nên ông Nhiều N và bà T đã ly thân từ đầu năm 2022 đến nay, trong thời gian ly thân thì ông Nhiều N và bà T cũng không có hàn gắn lại được tình cảm. Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà T thì ông Nhiều N có ý kiến như sau:

  • - Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
  • - Về con chung: 04 con chung tên Châu Thành N, sinh năm 1992, Châu Kim N, sinh năm 1995, Châu Thị Cẩm N, sinh năm 1996 và Châu Phú Q, sinh năm 2002 hiện nay đều đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị T và bị đơn Châu Văn Nhiều N vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Nhiều N đều thừa nhận chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1989 đến đầu năm 2022 nhưng không đăng ký kết hôn, việc bà T và ông Nhiều N không đăng ký kết hôn được sự xác nhận của Ủy ban nhân xã T, huyện K, tỉnh Đồng Tháp (là nơi bà T và ông Nhiều N sống chung với nhau từ sau khi tổ chức đám cưới đến khi ly thân). Do đó, hôn nhân của bà T và ông Nhiều N là không có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Đồng thời khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.

Bà T và ông Nhiều N có đủ điều kiện kết hôn nhưng chỉ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Mặc dù bà T và ông Nhiều N thống nhất ly hôn nhưng quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Nhiều N không hợp pháp, do đó không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Nhiều N là vợ chồng theo quy định tại các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Bà T và ông Nhiều N thống nhất trong khoảng thời gian chung sống với nhau như vợ chồng có được 04 con chung tên Châu Thành N, sinh năm 1992, Châu Kim N, sinh năm 1995, Châu Thị Cẩm N, sinh năm 1996 và Châu Phú Q, sinh năm 2002. Hiện nay các con chung đều đã thành niên và có khả năng lao động, bà T và ông Nhiều N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà T và ông Nhiều N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[3] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định: “Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, vậy bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0002961 ngày 07-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí. Ông Châu Văn Nhiều N không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 5, 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Châu Văn Nhiều N là vợ chồng.
  2. Về con chung: 04 con chung tên Châu Thành N, sinh năm 1992, Châu Kim N, sinh năm 1995, Châu Thị Cẩm N, sinh năm 1996 và Châu Phú Q, sinh năm 2002 hiện nay đều đã thành niên và có khả năng lao động, bà Nguyễn Thị T và ông Châu Văn Nhiều N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Châu Văn Nhiều N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  4. Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình:

    Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0002961 ngày 07-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ tiền án phí.

    Ông Châu Văn Nhiều N không phải chịu án phí.

  5. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - CC THADS huyện Tân Hồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Thị Bé Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2022/HNGĐ-ST ngày 12/08/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 16/2022/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận bà Nguyễn Thị T và ông Châu Văn Nhiều N là vợ chồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger