|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 16/2022/DS-PT Ngày 24/3/2022 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nam
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Hương, Ông Ma Hồng Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Kiều Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hữu Tình - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 23 và ngày 24 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2021/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2021/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tuyên Quang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 07/2022/QĐ-PT, ngày 07 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị V, sinh năm 1949;
Địa chỉ: Tổ 7 (thôn Đ cũ), phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư ông Ma Ngọc Khanh – Cộng tác viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Ông Lương Xuân Q, sinh năm 1968;
Địa chỉ: Tổ 7 (thôn Đ cũ), phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hà Quốc H, sinh năm 1977;
- Chị Hà Thị H, sinh năm 1979;
- Chị Hà Thị H1, sinh năm 1980;
- Chị Nguyễn Thị Nguyệt N, sinh năm 1979;
Cùng địa chỉ: Tổ 7 (thôn Đ cũ), phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
- Anh Hà Quốc H1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Số nhà 11, Tổ dân phố 11, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Do có kháng cáo của bị đơn ông Lương Xuân Q. (Bà V, ông Q, Chị N, chị H, chị H1 và ông Khanh có mặt tại phiên toà; anh H, anh H1 có đơn xin giải quyết vắng mặt).
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phạm Thị V trình bày:
Bà và các con là Hà Quốc H, Hà Thị H, Hà Thị H1, Hà Quốc H1 là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, sở hữu hợp pháp thửa số 139 diện tích 364 m² đất ao và thửa số 140 diện tích 400 m² đất ở và 724 m² đất vườn nhà, thuộc tờ bản đồ số 24 tại địa chỉ: Xóm Lâm nghiệp, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang (Nay là tổ 7, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang). Tổng diện tích là 1.488 m², đất đã được UBND huyện Y, tỉnh Tuyên Quang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E757661 ngày 19/9/1995 mang tên ông Hà Văn L (ông L là chồng bà, đã chết năm 2011). Thửa đất số 139 liền kề với thửa đất số 140 và sát mép đường bê tông của xóm. Trong quá trình sử dụng đất phần bờ ao sát đường đi của xóm gia đình bà có trồng 01 cây hoa sữa và trồng cây ngắn ngày để chăn nuôi.
Năm 2011, khi nhà nước triển khai làm đường bê tông nông thôn, xóm đã xây dựng con đường bê tông theo con đường đi của xóm dọc bờ ao nhà bà (rộng 3m). Phần còn lại từ mép đường bê tông đến mặt nước ao của bà có chiều rộng là 1,5m chạy dọc theo mép đường bê tông có chiều dài 41m vẫn thuộc diện tích đất ao nhà bà, có sơ đồ và kích thước đúng như trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà. Nhưng khi xóm làm xong đường bê tông, ông Lương Xuân Q đã tự ý đổ đất lấn chiếm phần đất đó (rộng 1,5m, dài 41m) để trồng các loại cây như: Xoan, Keo, Cau, Chuối... Gia đình bà đã nhiều lần yêu cầu ông Q nhổ bỏ và chặt cây đi để trả lại đất cho gia đình bà nhưng ông Q không nghe mà còn chửi bới, lăng mạ, ném đất đá sang nhà bà và dọa đánh bà nhiều lần. Sự việc đã được chính quyền thôn, xóm và UBND xã phối hợp giải quyết, đã xác minh vị trí, khu vực đất tranh chấp là dọc bờ ao từ ngã ba cổng vào nhà bà đến giáp đường vào nhà ông Q và giáp đất ao nhà ông Q dọc theo đường bê tông (rộng 3m) không liên quan gì đến thổ đất nhà ông Q.
Vì vậy bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Lương Xuân Q chặt bỏ toàn bộ cây cối đã trồng, trả lại cho gia đình bà phần đất đã lấn chiếm có chiều rộng 1,5m, chiều dài 41m, tổng diện tích là 61,5 m² thuộc thửa 139 và 140, tờ bản đồ số 24, địa chỉ thửa đất hiện tại: Tổ 7, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, trị giá đất khoảng 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
* Bị đơn ông Lương Xuân Q trình bày:
Vào năm 1965 gia đình ông chuyển vùng từ vùng hồ về thôn Đ cũ, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Lúc đó khu vực đó chưa có nhà ai ở, sau đó năm 1978 gia đình bà V nhận bố mẹ ông là anh em kết nghĩa. Bố mẹ ông cho vợ chồng bà V diện tích đất ở hiện nay (trước kia là đồi chuối và con đường đi của gia đình ông), sau đó ông bà V ở và có lấn chiếm dẫn đến xích mích cãi chửi nhau từ năm 1985-1987. Ông xác nhận đường đi là đường dân sinh, còn đường đang đi là đi nhờ đường nhà ông T, phần đất bà V tranh chấp là phần đất của ông để làm đường đi nhưng ông chưa làm mà trồng cây lên diện tích đất đó có diện tích rộng 4m, dài 41m giáp với đường đi nhà ông T và giáp với ao nhà bà V có mốc đá bên dưới. Nay bà V khởi kiện tranh chấp diện tích đất 61,5 m² ông không nhất trí, ông xác định diện tích đó thuộc của 9 hộ dân, trong đó có gia đình ông.
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 15/10/2021, ông Lương Xuân Q có đơn kháng cáo đối với Bản án dân sự số 153/2021/DS-ST. Việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lương Xuân Q, Hội đồng xét xử thấy rằng: Về nguồn gốc sử dụng đất của bà Phạm Thị V có từ năm 1977 do bà V và ông Hà Văn L tự khai phá và sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai. Đến ngày 19/9/1995 Uỷ ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 757661 mang tên ông Hà Văn L đối với 02 thửa đất số 139 và 140. Như vậy, có cơ sở xác định diện tích 77,5m² đất đang có tranh chấp trong vụ án nằm trong tổng diện tích thuộc hai thửa đất 139 và thửa đất số 140, tờ bản đồ 24 xã P (nay là phường M) thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông Hà Văn L và bà Phạm Thị V.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Lương Xuân Q nên ông Q phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Lương Xuân Q, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 153/2021/DS-ST, ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố T như sau:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị V.
- Buộc ông Lương Xuân Q phải trả lại cho bà Phạm Thị V 77,5m² đất bờ ao và đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa 139 và 140, tờ bản đồ địa chính số 24, trị giá 2.015.000đ (Hai triệu không trăm mười lăm nghìn đồng), địa chỉ thửa đất tại tổ 7 (thôn Đ cũ), phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
- Buộc ông Lương Xuân Q phải khai thác, di chuyển toàn bộ cây trồng trên diện tích đất tranh chấp để trả lại đất cho Bà Phạm Thị V.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lương Xuân Q phải trả cho bà Phạm Thị V tiền chi phí thẩm định và định giá là 6.045.000 đồng.
- Về án phí: Ông Lương Xuân Q phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 24/3/2022).
|
Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - TAND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Các đương sự; - Lưu VPTA (HCTP); - Lưu: Hồ sơ. |
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nam |
Bản án số 16/2022/DS-PT ngày 24/03/2022 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 16/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Phạm Thị V khởi kiện yêu cầu ông Lương Xuân Q trả lại đất lấn chiếm
