|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 16/2021/HS-ST Ngày: 13-4-2021 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________________ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H - TỈNH NAM ĐỊNH
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Phán; Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định, Toà án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/TLST- HS ngày 10 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định xét xử số 15/2021/QĐXXST- HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Phạm Minh T, sinh năm 1996, tên gọi khác: Không. Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn Tr, xã M, huyện V, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông: Phạm Văn M, sinh năm 1976 và con bà Hà Thị Thu H (đã chết); gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-12-2020 đến ngày 29-12-2020 thì chuyển tạm giam cho đến nay “có mặt”.
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn Th1, sinh năm 1992; địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn Th2, sinh năm 1992; địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn Ô M1, xã T, huyện V tỉnh Thái Bình.
- Anh Nguyễn Văn Th3 sinh năm 1986; địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1960; địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt: anh Th1, bà M, anh Th2, anh Th3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết nên từ ngày 14-10-2020, Phạm Minh T nhận hợp đồng làm thuê ốp đá xẻ công trình xây dựng nhà ở cho anh Nguyễn Văn Th3 ở xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định là chủ thầu xây dựng. Trong thời gian làm thuê, T có ở nhà của mẹ đẻ anh Th3 là bà Phạm Thị M ở xóm C, xã H, huyện H, cùng với anh Nguyễn Văn Th1 em trai anh Th3. Do không có phương tiện đi lại nên T thường xuyên mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 18H1 - 567.58 của anh Nguyễn Văn Th1 là em trai của Th3 để đi lại. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 18H1 - 567.58 là của anh Nguyễn Văn Th2 là anh trai của anh Th1 và là em trai anh Th3. Thời gian T ở nhà bà M thì anh Th2 thường xuyên đi làm trên Hà Nội nhưng anh Th2 có giao xe mô tô và chìa khóa xe của mình cho anh Nguyễn Văn Th1 là em trai quản lý, sử dụng. Ngày 01-11-2020, do không có nhu cầu thuê người làm nữa nên anh Th3 đã thanh lý hợp đồng với T. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T hỏi anh Th1 để mượn chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, BKS 18H1 - 567.58 để đi về nhà, hẹn ngày hôm sau sẽ trả, anh Th1 đồng ý. Sau đó T điều khiển xe đi về tỉnh Thái Bình. T đi đến khu vực huyện V, tỉnh Thái Bình, do không có tiền ăn tiêu và biết trong cốp xe có giấy đăng ký xe nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên, mang đi cầm cố lấy tiền. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T mang chiếc xe mô tô mượn của anh Th1 đến cửa hàng cầm đồ “Ngọc Sơn” do chị Nguyễn Thị N ở thôn Ô M 1, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình làm chủ. T nói với chị N “đây là xe của em mới mua, do cần tiền muốn cầm cố lấy 10.000.000đ”. Chị N có quen biết với gia đình T và không biết xe T mang đến cầm cố là đi mượn mà có nên đã đồng ý cầm cố xe với số tiền 10.000.000đ. Sau khi nhận được tiền, T đi lên thành phố Hà Nội ăn tiêu hết. Đến ngày 23-12-2020, T đến Công an huyện H đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐG ngày 25-12-2020, Hội đồng định giá tài sản huyện Hải Hậu kết luận: Chiếc xe mô tô BKS 18H1 - 567.58 trị giá 25.000.000đ. Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho bị hại. Sau khi nhận lại tài sản, anh Nguyễn Văn Th1 không yêu cầu gì thêm về phần dân sự.
Cáo trạng số 14/CT-VKS-HH ngày 09-3-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố Phạm Minh T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Minh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 01-11-2020, Phạm Minh T mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS 18H1 - 567.58 trị giá 25.000.000đ của anh Nguyễn Văn Th1 để đi về nhà và hẹn ngày hôm sau sẽ trả thì anh Th1 đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe đi về tỉnh Thái Bình thì nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh Th1 nên đã mang đi cầm cố tại cửa hàng cầm đồ “Ngọc Sơn” lấy số tiền 10.000.000đ. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-12-2020.
2. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thúy Nga |
Bản án số 16/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 16/2021/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/04/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Nam Định
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hình sự
