Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ C

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 16/2021/HNGĐ – ST

Ngày: 23/3/2021

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C – TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trần Quốc Hay

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Xuân Hoàng
  2. Ông Huỳnh Dư

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Xuyến – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 327/2020/TLST –HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2021/QĐST – HNGĐ ngày 24 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2021/QĐST – HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2021; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Cao Thị P - Sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn Thịnh S, xã C1, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Mang C2 - Sinh năm: 1990

Nơi cư trú: Thôn Thịnh S, xã C1, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 27/11/2020, bản tự khai ngày 06/01/2021, các tài liệu trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Cao Thị P trình bày: Tôi và ông Mang C2 tự nguyện kết hôn năm 2014, được UBND xã C1, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014, quyển số 01/2013, ngày 10 tháng 10 năm 2014.

Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống rất hạnh phúc, anh C2 biết chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên từ đầu năm 2020, khi được mẹ bán đất và cho tiền thì ông C2 không còn chăm lo làm ăn và sinh ra tật ăn nhậu rồi về nhà quậy phá, đánh đập tôi, việc này cứ diễn ra thường xuyên. Tôi đã nhiều lần làm đơn trình báo đến chính quyền để giải quyết nhưng anh C2 vẫn không hề thay đổi. Tôi không chịu đựng được nữa nên đã ôm con về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Nhận thấy không thể kéo dài cuộc hôn nhân này nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho chúng tôi ly hôn.

Về con chung: Chúng tôi có tất cả 02 con chung tên Cao Thị Ngọc T, sinh ngày 20/02/2014 và Cao Hoàng T2, sinh ngày 31/5/2015. Sau khi ly hôn tôi đề nghị Tòa án giao cả 02 con cho tôi trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông C2 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bị đơn ông Mang C2 vắng mặt và trong suốt quá trình giải quyết vụ án ông C2 cũng không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn bà Cao Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Mang C2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Cao Thị P vắng mặt, tuy nhiên bà P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án căn cứ vào Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị P và ông Mang C2 tự nguyện kết hôn năm 2014, được UBND xã C1, thành phố C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 69/2014, quyển số 01/2013, ngày 10 tháng 10 năm 2014 nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu bà Cao Thị P và ông Mang C2 sống chung với nhau hạnh phúc, ông Mang C2 biết lo làm ăn và chăm lo cho gia đình, con cái, tuy nhiên từ đầu năm 2020, ông C2 thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà chửi bới, đánh đập, quậy phá trong gia đình. Bà P đã nhiều lần nhờ chính quyền địa phương can thiệp nhưng ông C2 vẫn không chịu sửa đổi. Hiện nay, bà P đã bỏ về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà P và ông C2 đã đến mức trầm trọng, có kéo dài để sống chung thì mục đích hôn nhân cũng không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Cao Thị P đối với ông Mang C2.

[3] Về con chung: Nguyên đơn xác định có tất cả 02 (hai) con chung là Cao Thị Ngọc T, sinh ngày 20/02/2014 và Cao Hoàng T2, sinh ngày 31/5/2015. Xét thấy, sau khi ly hôn việc giao con chưa thành niên cho người nào nuôi dưỡng, giáo dục là nhằm mục đích giúp con chưa thành niên phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Nguyên đơn mong muốn được tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục cháu T và cháu T2 đến tuổi trưởng thành, thực tế từ trước đến nay cả 02 cháu sống cùng nguyên đơn và được đảm bảo đầy đủ điều kiện sống và học tập; nguyện vọng của cháu T là muốn sống cùng nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu T và cháu T2 cho nguyên đơn được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Nguyên đơn khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Nguyên đơn khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn bà Cao Thị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Cao Thị P được ly hôn với ông Mang C2.
  2. Về con chung: Giao cháu Cao Thị Ngọc T, sinh ngày 20/02/2014 và Cao Hoàng T2, sinh ngày 31/5/2015 cho bà Cao Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Bà P không yêu cầu ông C2 cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn vì quyền lợi của con, các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Bà Cao Thị P phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số AA/2019/00001033 ngày 07 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Như vậy, bà Cao Thị P đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thành phố C;
  • - Chi cục THADS thành phố C;
  • - UBND xã C1 (Số 69/2014, quyển số 01/2013, ngày 10/10/2014);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Hay

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 16/2021/HNGĐ – ST ngày 23/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 16/2021/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger