|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 16/2021/HNGĐ-ST |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Lâm.
- Ông Nguyễn Văn Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Trần Thị Cẩm Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 446/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2020 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp X, xã P, huyện Ph, tỉnh Bình Dương (có mặt).
- Bị đơn: Bà Hoàng Nữ Ngọc Đ, sinh năm 1988. Địa chỉ: Số Y đường Trịnh Hoài Đ1, hẻm 34, tổ 39, khu phố 5, phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/8/2020 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Đỗ Văn T trình bày:
Ông Đỗ Văn T và bà Hoàng Nữ Ngọc Đ tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND phường P, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 141, quyển số 01/2011. Trong cuộc sống giữa vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, mỗi người một ý dẫn đến cãi nhau, mâu thuẫn kéo dài. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do sau khi kết hôn ông T về sống cùng gia đình bên vợ tại khu phố 5, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Quá trình sống chung do nhiều nguyên nhân nên trong cách đối xử với nhau hàng ngày vợ chồng không có sự tôn trọng lẫn nhau. Bố vợ thường hay la mắng, có khi đuổi ông T không cho ở nhà, vợ thì khi cãi nhau hay dùng bạo lực đối với ông T, dùng dao đuổi đánh, dùng nón bảo hiểm đánh ông T. Theo ông T, nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do vấn đề kinh tế, vì ông T làm ăn thất bại nên gia đình bên vợ đuổi ông T ra khỏi nhà. Khi xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng ông T không thể ngồi lại nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn nên tình trạng mâu thuẫn càng kéo dài và từ đầu năm 2020 ông T đã về nhà Dì ruột của ông T tại Phú Giáo để sinh sống, không còn sống chung cùng gia đình vợ nữa. Sau khi không còn sống chung thì ông T vẫn quan tâm, chăm sóc con cái nhưng đến khoảng tháng 7,8/2020 vì không còn thời gian nên ông T không đến đưa đón con đi học hay chăm sóc nữa. Hiện nay, ông T đang kinh doanh buôn bán, nguồn thu nhập cố định khoảng 6.000.000 đồng/tháng. Ông T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt, tình trạng mâu thuẫn giữa vợ chồng không thể giải quyết được nên ông T yêu cầu Tòa án giải quyết để ly hôn với bà Hoàng Nữ Ngọc Đ.
- Về con chung: Có 02 con chung là Đỗ Hoàng Minh N, sinh ngày 27/11/2014 và cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, sinh ngày 27/3/2012. Sau khi ly hôn ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Hoàng Minh N, sinh ngày 27/11/2014 và không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con. Ông T đồng ý để bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng con chung cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, sinh ngày 27/3/2012 và ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Ông T tự nguyện nộp toàn bộ án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng nuôi con.
* Tại văn bản ngày 25/11/2020 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Hoàng Nữ Ngọc Đ trình bày: Bà Đ thống nhất với lời trình bày của ông Đỗ Văn T về thời gian kết hôn và đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn thì bà Đ và ông T sinh sống cùng gia đình bà Đ tại khu phố 5, phường Phú Lợi. Trong thời gian sống chung, chúng bà Đ thỉnh thoảng có những cãi vã liên quan đến cuộc sống, việc ông T cho rằng khi xảy ra mâu thuẫn bà Đ dùng dao, dùng nón bảo hiểm để đuổi đánh thì hoàn toàn không có. Nếu như ông T cho rằng bà Đ có những hành vi đó thì đề nghị ông T cung cấp cho Tòa những tài liệu chứng cứ chứng minh cho những hành vi đó. Bà Đ xác định những vấn đề như ông T nói là hoàn toàn không có. Quá trình sống chung bà Đ đã đưa tiền cho ông T để làm ăn nhưng thực tế là ông T làm phơi đề, cá độ đá bóng. Những tài liệu chứng cứ mà ông T làm ăn phơi đề, cá độ đá bóng bà Đ có lưu giữ sẽ cung cấp cho Tòa án. Việc ông T trình bày do gia đình bà Đ đuổi không có ở gia đình là hoàn toàn sai sự thật, thực tế là ông T ra ngoài sống cùng người phụ nữ khác. Ông T có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác và người đó thường gọi điện, nhắn tin chửi mắng bà Đ thì bà Đ đều có lưu lại chứng cứ. Thời gian sau khi ông T ra khỏi nhà thì không còn quan tâm đến cuộc sống của mẹ con bà Đ nữa, bà Đ điện thoại xin tiền học cho con, nhờ đưa đón con thì ông T đều không quan tâm. Khi xảy ra mâu thuẫn thì anh trai ông T gọi điện chửi mắng bà Đ và xác định “Gia đình không hình thành thì đàn ông đi chơi đĩ là bình thường”. Bản thân bà Đ xác định những gì ông T cho rằng là nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là hoàn toàn không đúng, đó là những mâu thuẫn mà gia đình nào cũng có. Nên bà Đ không đồng ý ly hôn, bà Đ không muốn con bà Đ bị ảnh hưởng khi cha mẹ ly hôn, bà Đ chỉ đồng ý ly hôn khi con bà Đ đủ 18 tuổi và đề nghị bà Đ ly hôn với Ba của bọn trẻ. Bà Đ xác định tình cảm bà Đ dành cho chồng bà Đ vẫn còn, bà Đ đã nhiều lần đến nơi ông T ở để năn nỉ để hòa giải để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng ông T không đồng ý, vì thương 02 con nên ông T nộp đơn yêu cầu ly hôn với bà Đ thì bà Đ không đồng ý.
- Về con chung: Nếu giải quyết ly hôn theo quy định pháp luật thì bà Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đỗ Hoàng Minh N, sinh ngày 27/11/2014 và cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, sinh ngày 27/3/2012.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đ không yêu cầu giải quyết do bà Đ không đồng ý ly hôn.
- Về tài sản chung: Bà Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Quá trình sống chung, bà Đ có vay mượn của người thân để đưa cho ông T làm ăn và trả nợ với số tiền 500.000.000 đồng nhưng sau đó khi bà Đ đề cập đến số tiền này thì ông T cho rằng đã xài hết, không còn tiền để trả nợ. Bà Đ yêu cầu ông T phải có trách nhiệm trả lại cho bà Đ số tiền này để bà Đ trả nợ cho người thân. Quá trình giải quyết vụ án bà Đ có nộp đơn phản tố yêu cầu giải quyết phần nợ chung nhưng ngày 11/01/2021 bà Đ đã có đơn xin rút đơn phản tố đề nghị giải quyết phần tài sản chung và nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa có ý kiến: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ, đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị sửa chữa, bổ sung gì về phần thủ tục. Về nội dung, nhận thấy yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung giao cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con đề nghị xem xét chấp yêu cầu của bị đơn về việc yêu cầu nguyên đơn cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Đỗ Văn T khởi kiện tranh chấp yêu cầu được ly hôn, tranh chấp nuôi con với bị đơn bà Hoàng Nữ Ngọc Đ nên xác định quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Hoàng Nữ Ngọc Đ có đăng ký thường trú tại địa chỉ số 34/20 đường Trịnh Hoài Đ1, khu phố 5, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Căn cứ theo quy định pháp luật thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ông Đỗ Văn T và bà Hoàng Nữ Ngọc Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 141, quyển số 01/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Ông T yêu cầu được ly hôn với bà Đ vì cho rằng trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không có sự tôn trọng giữa vợ chồng nên làm cho không khí gia đình trở nên căng thẳng, gay gắt, tình trạng mâu thuẫn kéo dài không thể hòa giải. Bị đơn bà Hoàng Nữ Ngọc Đ cho rằng mâu thuẫn giữa ông T và bà Đ không có gì là trầm trọng, chỉ là những mâu thuẫn mà gia đình nào cũng phải có. Nguyên nhân chủ yếu là do ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác nên mới tìm cớ cãi nhau nhằm dọn ra ngoài sống như vợ chồng với người phụ nữ khác. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhằm mục đích hàn gắn tình cảm gia đình của ông T và bà Đ. Tuy nhiên, quá trình hòa giải giữa các bên không tìm được tiếng nói chung, nguyên đơn ông T cương quyết giữ quyết định được ly hôn với bà Đ. Suốt thời gian Tòa án thụ lý vụ việc giải quyết từ tháng 11 năm 2020 đến khi xét xử ngày 30/3/2021 thì vợ chồng ông T, bà Đ xác định không gặp nhau để hàn gắn tình cảm gia đình, bỏ mặc không quan tâm đến cuộc sống lẫn nhau. Bà Đ cho rằng có gọi điện thoại, tìm cách gặp mặt nhưng ông T đều né tránh, không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Quá trình hòa giải tại Tòa án, các đương sự đều thống nhất quá trình sống chung thì cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, bà Đ cho rằng ông T có mối quan hệ với người phụ nữ khác nhưng ông T không thừa nhận, bà Đ không đưa ra được tài liệu chứng cứ thuyết phục để chứng minh. Xét thấy, tình cảm gia đình được gây dựng trên sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau. Theo lời thừa nhận của ông T, bà Đ thì từ tháng 3 năm 2020 vợ chồng đã không còn sống chung, đến tháng 7 năm 2020 đã từng nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng sau đó rút đơn. Xét thấy, thực tế tình cảm vợ chồng giữa ông T và bà Đ đã không còn, vợ chồng đã bỏ mặc nhau, không yêu thương, chăm sóc nhau từ đầu năm 2020 đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Từ những nhận định và phân tích nêu trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đỗ Văn T với bà Hoàng Nữ Ngọc Đ.
[2.2] Về con chung: ông Đỗ Văn T và bà Hoàng Nữ Ngọc Đ có 02 con chung là Đỗ Hoàng Minh N, sinh ngày 27/11/2014 và cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, sinh ngày 27/3/2012. Quá trình giải quyết tại biên bản lấy lời khai ngày 15/01/2021 thì cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1 có nguyện vọng nếu Ba Mẹ ly hôn thì muốn ở cùng Mẹ. Xét thấy, hiện nay cả hai cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, Đỗ Hoàng Minh N đang ở cùng mẹ tại khu phố 5, phường Phú Lợi và cùng học tập tại trường Tiểu học Phú Hòa 1. Nhằm ổn định cuộc sống, tâm lý và việc học tập của cháu Đ1 và cháu N, đảm bảo mối gắn kết tình cảm giữa anh em với nhau nên Hội đồng xét xử xét thấy việc giao 2 cháu Đ1, N cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đỗ Văn T cũng thống nhất về việc giao 02 con chung cho bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa, Bà Hoàng Nữ Ngọc Đ yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ông T chỉ đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét thấy, tại phiên tòa ông T thừa nhận mức thu nhập hiện nay không ổn định do đang kinh doanh tự do. Nên thu nhập hàng tháng chỉ từ 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng mỗi tháng nên xét thấy mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng/con là phù hợp. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của ông T mỗi tháng 1.500.000 đồng/con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn ông Đỗ Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết bị đơn bà Hoàng Nữ Ngọc Đ có đơn phản tố yêu cầu giải quyết phần tài sản chung và nợ chung. Tuy nhiên, ngày 11/01/2021 bà Đ có đơn xin rút yêu cầu phản tố đối với yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung. Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của bà Đ. Nếu sau này có tranh chấp thì bà Đ có quyền yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác.
Từ những nhận định trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn về việc ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng.
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hôn nhân, con chung là phù hợp nên HĐXX chấp nhận. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng là chưa phù hợp.
[2.5] Về án phí hôn nhân và đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con thì nguyên đơn ông Đỗ Văn T phải nộp theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, các Khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 228, Khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 55, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 116 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Văn T với bị đơn bà Hoàng Nữ Ngọc Đ về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Văn T được ly hôn đối với bà Hoàng Nữ Ngọc Đ.
- Về con chung: Bà Hoàng Nữ Ngọc Đ được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Đỗ Hoàng Minh N, sinh ngày 27/11/2014 và cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, sinh ngày 27/3/2012.
- Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Ông Đỗ Văn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là Đỗ Hoàng Minh N, sinh ngày 27/11/2014 mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông Đỗ Văn T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Đỗ Hoàng Minh Đ1, sinh ngày 27/3/2012 mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Vì lợi ích hợp pháp của con chung, khi đương sự có yêu cầu Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau này nếu cần thiết.
Ông Đỗ Văn T có quyền, nghĩa vụ qua lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Ông Đỗ Văn T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình và 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0050435 ngày 25/9/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Ông Đỗ Văn T còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - CCTHADS Tp. Thủ Dầu Một; - UBND phường P, Tp. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; - Đương sự; - Lưu: HSVA, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Hồng Phương |
Bản án số 16/2021/HNGĐ-ST ngày 30/03/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 16/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, con chung vợ nuôi, cấp dưỡng nuôi con 1,5 triệu mỗi tháng, tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giài quyết.
