|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 16/2021/HNGĐ-PT Ngày 02 - 7 - 2021 V/v Ly hôn, con chung, chia tài sản chung giữa chị N và anh T2. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng
Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Thu, Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2021/TLPT-HNGĐ ngày 18-5-2021 về Tranh chấp Ly hôn, nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2021/HNGĐ-ST ngày 18-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Nam Định bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐ-PT ngày 08 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nam Định;
- Bị đơn: Anh Trần Văn T2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Thôn 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng: Ông Trần Văn B, sinh năm 1953; Địa chỉ: Thôn 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nam Định.
Quyết định kháng nghị số 486/QĐKNPT-VKS-DS ngày 14-4-2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định.
Tại phiên toà phúc thẩm: Chị N có mặt, anh T2, ông B vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 30 tháng 9 năm 2020, bản tự khai và tại các buổi làm việc tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị N và anh Trần Văn T2 kết hôn vào ngày 09 tháng 01 năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T1, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc, sau luôn bất đồng quan điểm, anh T2 có quan hệ ngoại tình với người con gái khác, không quan tâm đến gia đình vợ con nên cuộc sống thường xuyên xảy ra va chạm bất hòa. Vì vậy, chị N và anh T2 đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2020. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T2.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Thị Yến N1, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2007, hiện con chung đang ở cùng chị. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng xin được nuôi con và yêu cầu anh T2 cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị mỗi tháng hai triệu đồng.
Về tài sản chung: Vợ chồng có ngôi nhà lợp ngói đỏ; Bếp lợp Prô xi măng; Nền sân đổ bê tông; Tường rào thép hộp; Tường rào bịt tôn; Mái tôn xà gỗ thép 01 ngôi nhà cấp 4, sân lợp mái tôn được xây dựng trên diện tích 180m2 đất TSN. Năm 2012 vợ chồng đã được UBND huyện T, tỉnh Nam Định cấp GCNQSD đất, theo GCNQSD đất số B1992264 có diện tích 180m2 đất TSN, thửa số 400, tờ bản đồ số 7, tại thôn 5, xã T1, huyện T, tỉnh Nam Định. Vợ chồng đã vượt lập xây nhà và các công trình trên đất nhưng chưa chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Ngoài ra không có tài sản nào khác.
Công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
* Bị đơn anh Trần Văn T2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thông qua người thân nhưng không đến Tòa án làm việc và giao nộp bản tự khai và các tài liệu chứng cứ. Đến nay anh T2 không có quan điểm của mình đối với vụ án.
* Tại biên bản lấy lời khai ông Trần Văn B là bố đẻ anh Trần Văn T2 trình bày: Vợ chồng anh Trần Văn T2 và chị Phạm Thị N có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào tháng 01 năm 2006 tại UBND xã T1, huyện T, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống vợ chồng anh T2 có 01 con chung, sau anh T2 có quan hệ ngoại tình với cô gái khác, gia đình ông có khuyên bảo nhưng anh T2 không nghe, chính vì thế anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc. Nay chị N có đơn xin ly hôn anh T2, gia đình ông nhất trí.
Về con chung và tài sản chung: Đúng như chị N đã khai. Ông đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án về việc chị N xin ly hôn anh T2, và các thông báo của Tòa án gửi cho anh T2, ông có liên lạc với anh T2 và đã thông báo cho anh T2 biết nhưng anh T2 không đến Tòa án và có nói với ông về việc chị N xin ly hôn anh T2 cũng đồng ý.
Tại bản án số 28/2021/HNGĐ-ST ngày 18-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Nam Định quyết định. Căn cứ các Điều 51; 56; Điều 33; 38; 59, 62 và Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình. Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Văn T2.
- Về con chung: Giao chị Phạm Thị N được quyền nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Yến N1, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2007. Anh Trần Văn T2 cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị N 1.500.000đ/1 tháng.
- Về tài sản: Giao cho chị Phạm Thị N được quyền sở hữu và sử dụng các tài sản gồm: Nhà lợp ngói đỏ + ngói màn; Nhà vệ sinh + nhà tắm; Nền sân đổ bê tông; Tường rào thép hộp phía giáp mương (8.79m); Rào bịt tôn; Mái tôn xà gỗ thép, tổng là 89.298.000đồng và được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 88,4 m2 tại thửa số 400. Giao cho anh Trần Văn T2 sở hữu và sử dụng các tài sản gồm: Bếp lợp prô xi măng; Tường rào thép hộp phía giáp mương (6.9m), tổng là 11.160.000đồng và được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 88,6 m2 tại thửa số 400.
Ngày 14-4-2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định ra quyết định kháng nghị số 486/QĐKNPT-VKS-DS đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử phúc thẩm với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xác định tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng chị N, anh T2 là 217.470.000đ. Khi ly hôn mỗi người sẽ được hưởng ½ giá trị là 108.735.000đ, Tòa án cấp sơ thẩm đã chia đôi thửa đất mỗi người sử dụng ½ về phía mương, tài sản trên đất chị N được chia nhiều hơn, chị nhận có trách nhiệm trả chênh lệch cho anh T2. Song bản án sơ thẩm lại chia cho chị N được hưởng 116.578.000đ, anh T2 được hưởng 98.750.000đ là không phù hợp Điều 59 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 làm ảnh hưởng đến quyền lợi của anh T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ Khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T2.
[2] Xét nội dung kháng nghị của VKSND tỉnh Nam Định về số tiền chị N phải thanh toán chênh lệch chia tài sản chung cho anh T2 và buộc anh T2 phải nộp tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung thấy rằng: Tài sản chung của vợ chồng chị Phạm Thị N và anh Trần Văn T2 gồm có: Một thửa đất có diện tích 180m2 (NTS) tại thửa đất số 400, tờ bản đồ số 7. Tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng chị N và anh T2 là 217.470.000 đồng.
[3] Căn cứ vào khối tài sản chung của vợ chồng, hiện trạng thửa đất và điều kiện sử dụng về tài sản của các bên; Tòa án cấp sơ thẩm đã giao chị N được quyền quản lý và sử dụng diện tích 88,4m2 đất NTS và các tài sản trên đất tổng giá trị là 146.758.000đồng. Giao anh T2 được quyền quản lý, sử dụng diện tích 88,6m2 đất NTS và các tài sản trên đất tổng giá trị là 68.750.000đồng. Buộc chị N có trách nhiệm trả chênh lệch tiền chia tài sản chung cho anh T2 là 30.000.000đồng là chưa đúng với quy định của pháp luật. Bởi vì, tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng chị N, anh T2 có trị giá 215.508.000đ, nếu chia đôi thì mỗi người sẽ được hưởng giá trị là 107.754.000đ, giá trị tài sản chị N được chia bằng hiện vật là 146.758.000đ nên chị N còn phải có trách nhiệm thanh toán tiền chênh lệch chia tài sản chung cho anh T2 số tiền 146.758.000đ - 107.754.000đ = 39.004.000đ mới phù hợp quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định. Sửa bản án sơ thẩm.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Văn T2.
- Về con chung: Giao con chung cháu Trần Thị Yến N1, sinh ngày 19 tháng 6 năm 2007 cho chị Phạm Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Văn T2 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Trần Thị Yến N1 mỗi tháng 1.500.000 đồng kể từ tháng 3 năm 2021 cho đến khi con chung trưởng thành.
- Về tài sản: Giao cho chị Phạm Thị N được quyền sở hữu và sử dụng các tài sản gồm: Nhà lợp ngói đỏ + ngói màn; Nhà vệ sinh + nhà tắm; Nền sân đổ bê tông; Tường rào thép hộp phía giáp mương dài 8.79m; Rào bịt tôn; Mái tôn xà gỗ thép, tổng là 89.298.000 đồng và được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 88,4 m2 tại thửa số 400 trị giá 57.460.000đ. Giao cho anh Trần Văn T2 sở hữu và sử dụng các tài sản gồm: Bếp lợp prô xi măng; Tường rào thép hộp phía giáp mương dài 6.9m, tổng là 11.160.000 đồng và được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 88,6 m2 tại thửa số 400 trị giá 57.590.000đ.
- Buộc chị Phạm Thị N phải có trách nhiệm thanh toán trả tiền chênh lệch chia tài sản cho anh Trần Văn T2 là 39.004.000đ (ba mươi chín triệu không trăm linh bốn nghìn đồng).
- Về án phí: Chị Phạm Thị N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 5.387.000đ án phí chia tài sản chung. Anh Trần Văn T2 phải nộp 5.387.000đ án phí chia tài sản chung và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh Nam Định; - TAND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Hồ sơ vụ án; - Lưu HS, VT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Văn Tùng |
Bản án số 16/2021/HNGĐ-PT ngày 02/07/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, con chung, chia tài sản chung
- Số bản án: 16/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị N - Trần Văn T2
