|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 16/2020/HNGĐ- ST. Ngày: 28/10/2020. V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Sơn và ông Lê Bá Thành.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký TAND huyện Thuận Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2020. Tại trụ sở TAND huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 108/2020/TLST-HNGĐ ngày 15/6/2020 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 29/9/2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vương Thị G, sinh năm 1989.
Bị đơn: Anh Vương Đức T, sinh năm 1987.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Vương Đức T1, sinh năm 1963.
Cùng địa chỉ: Thôn Đồng Đoài, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. (Các đương sự đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và bản tự khai tại Tòa án nguyên đơn chị Vương Thị G trình bày như sau:
Chị kết hôn với anh Vương Đức T ngày 22 tháng 10 năm 2007 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đại đồng Thành - Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh T ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Năm 2014 chị G đi lao động tại Đài Loan đến tháng 10 năm 2019 chị về nước thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, hơn nữa do vợ chồng không tin tưởng nhau về vấn đề kinh tế, tháng 11/2019 thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng chị đã về nhà mẹ đẻ ở vợ chồng sồng ly thân chấm dứt mọi quan hệ. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vương Đức T để mỗi người có cuộc sống mới.
Về con chung: Chị xác định quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Vương Đức K, sinh ngày 19/10/2008 và cháu Vương Đức T2, sinh ngày 02/7/2011. Hiện cả hai cháu khoẻ mạnh phát triển bình thường, trong thời gian vợ chồng sống ly thân thì cả hai cháu do anh T chăm sóc nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp và ruộng canh tác tại địa phương: Chị xác định không có gì vướng mắc nên không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.
Về tài sản riêng: Chị xác định trong thời gian lao động tại Đài Loan chị có gửi về khoảng hơn 20.000 USD hiện số tiền này sau khi trừ đi khoản tiền chi phí và nuôi con chung thì còn khoảng 13.000USD số tiền này hiện ông Vương Đức T1 là bố chồng đang quản lý. Nay ly hôn chị xác nhận số tiền này là tài sản riêng của chị nếu ông T1 trả lại thì chị nhất trí nhận còn nếu không chị cũng không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai tại Toà án anh Vương Đức T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận lời trình bày của chị G về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như cuộc sống chung của vợ chồng là đúng, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng chị G bỏ về nhà đẻ ở từ tháng 11/2019 đến nay vợ chồng đã sống ly thân. Nay chị G xin ly hôn anh hoàn toàn nhất trí.
Về con chung: Anh xác định quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Vương Đức K, sinh ngày 19/10/2008 và cháu Vương Đức T2, sinh ngày 02/7/2011. Hiện cả hai cháu khoẻ mạnh phát triển bình thường từ trước đến nay cả hai cháu đều do anh và bố mẹ anh chăm sóc nuôi dưỡng và kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì các cháu vẫn ở với anh. Sau khi ly hôn anh xác định các cháu đã lớn nếu các cháu muốn ở với ai thì do các cháu quyết định anh đều nhất trí.
Về tài sản chung riêng, công nợ và đất nông nghiệp: Anh xác định vợ chồng không có gì vợ chồng ly hôn anh không đề nghị đề Toà án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án triệu tập ông Vương Đức T1 tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tại bản tự khai và biên bản ghi lời khai ông T1 đều trình bày: Ông xây dựng gia đình cho cháu T, cháu G năm 2007. Năm 2014 cháu G đi lao động tại Đài Loan có gửi tiền về cho ông quản lý giúp. Sau khi đã trừ đi các khoản chi phí hiện nay ông xác nhận còn quản lý số tiền là 13.000USD do chị G gửi về, ông xác định đây là tài sản chung của vợ chồng G T nếu vợ chồng ly hôn ông sẽ có trách nhiệm trả lại cháu G, T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà; Sau khi nghe vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng; Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị G kết hôn với anh Vương Đức T năm 2007, trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND Đại Đồng Thành - huyện Thuận Thành - tỉnh Bắc Ninh đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về kết hôn, do vậy là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị G; Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị G và anh T là có thật, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau nên đã xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã chấm dứt mọi quan hệ từ tháng 11/2019 đến nay. Trong các biên bản hoà giải và tại phiên toà hôm nay anh T cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh cũng nhất trí ly hôn theo nguyện vọng của chị G. Do vậy, xử Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vương Thị G và anh Vương Đức T là phù hợp.
Về con chung: Chị Vương Thị G, anh Vương Đức T trình bày vợ chồng có hai con chung là cháu Vương Đức K, sinh ngày 19/10/2008 và cháu Vương Đức T2, sinh ngày 02/7/2011. Xét yêu cầu nuôi con chung của chị G, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù hiện nay hai cháu đều do anh T chăm sóc nuôi dưỡng, tuy nhiên hiện nay chị G đã về nước có việc làm, thu nhập ổn định. Căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con cũng như đảm bảo quyền lợi của người phụ nữ sau khi ly hôn; do vậy sau khi chị G anh T ly hôn nên cần giao con chung là cháu Vương Đức K cho anh T trực tiếp chăm sóc và giao con chung là cháu Vương Đức T2 cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 147, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về lệ phí án phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ vợ chồng: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Vương Thị G và anh Vương Đức T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Vương Đức K, sinh ngày 19/10/2008 cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con chung là cháu Vương Đức T2, sinh ngày 02/7/2011 cho chị G trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra. Các bên được quyền thăm nom con chung.
- Về án phí: Chị G phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm (xác nhận chị G đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0003494 ngày 15 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành).
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Huy Tuấn |
Bản án số 16/2020/HNGĐ- ST ngày 28/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 16/2020/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vương Thị G-Vương Đức T ly hôn
