|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15C/2023/HNGĐ-PT
Ngày 18- 8 - 2023
V/v “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Ngọc Tiếp.
Ông Hoàng Ngọc Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Bảo Châu - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2023/TLPT- HNGĐ, ngày 19 tháng 6 năm 2023 về “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2023/QĐPT-HNGĐ, ngày 29 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 178/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 21/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 198/2023/QĐPT-HNGĐ ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Cảnh H, sinh năm 1978.
Địa chỉ: P, C, chung cư Đ, khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Chu Quang M. Công ty L - Đoàn Luật sư tỉnh N.
Địa chỉ: Số D, đường Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2022, bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Cảnh H trình bày:
Anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 6/2017 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống hai người có 01 con chung là Nguyễn Phạm Thùy D, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2018. Do mâu thuẫn giữa hai người nên từ tháng 7/2022 chị Phạm Thị T chuyển đi sinh sống nơi khác, để con chung lại cho anh H nuôi dưỡng. Đến tháng 9/2022, chị Phạm Thị T đã tự ý đưa con về sinh sống bên ngoại, yêu cầu hủy Giấy khai sinh cấp trước đây do không có đăng ký kết hôn để khai sinh chuyển sang họ của chị Phạm Thị T thành Phạm Thùy D và bỏ trống tên cha làm ảnh hưởng đến con chung. Tại Bản án số 08/2023/HNGĐ-ST, ngày 27/02/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn đã xác định anh Nguyễn Cảnh H là cha đẻ của cháu Phạm Thùy D. Vì vậy, anh H yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận vợ chồng giữa anh với chị Phạm Thị T và yêu cầu chị Phạm Thị T giao con chung cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con trưởng thành, không yêu cầu chị Phạm Thị T cấp dưỡng. Về tài sản: Anh Nguyễn Cảnh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, lời khai trong quá trình thu thập chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn chị Phạm Thị T khai:
Chị thống nhất về việc chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn và con chung như lời khai của anh Nguyễn Cảnh H. Trong thời gian chung sống với nhau, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn nên từ tháng 7/2022 đến nay, chị và anh H không chung sống với nhau, con chung hiện đang do chị nuôi dưỡng, con chung phát triển bình thường. Chị Phạm Thị T yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Nguyễn Cảnh H và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh Nguyễn Cảnh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn: Thống nhất như yêu cầu của bị đơn.
Với nội dung trên, Bản án Hôn nhân và Gia đình số 19/2023/HNGĐ-ST ngày 28/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 14, 15, khoản 2 Điều 53, các Điều 68, 69, 70, 71, 72, 73, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H.
1.1. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T.
1.2. Buộc chị Phạm Thị T giao cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2018 cho anh Nguyễn Cảnh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Phạm Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở. Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Bản án còn quyết định về quyền thỏa thuận thi hành án, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 08/5/2023, chị Phạm Thị T kháng cáo một phần quyết định của bản án với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án, giao cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 17/4/2018 cho chị Phạm Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Anh H không có tài liệu chứng minh mình có thu nhập;các tài liệu, chứng cứ liên quan đến bản ảnh, zalo không được thu thập hợp pháp; anh H có dấu hiệu của việc giả mạo, làm nhục người khác. Chị T chứng minh được anh H không có thời gian chăm sóc con. Chị T đang có sổ tiết kiệm với số tiền 200.000 đồng để nuôi con; hiện nay chị và cháu Thùy D đang ở cùng bố mẹ và vợ chồng anh trai chị T tại xóm T, xã T, huyện N, bố mẹ chị đồng ý cho mẹ con chị ở ổn định lâu dài; về mặt giới tính chị T là người mẹ có trách nhiệm, mong muốn được nuôi con, thường xuyên giành thời gian chăm sóc con ổn định; việc chị T thay đổi Giấy khai sinh của con là do anh H không thừa nhận con, không đăng ký kết hôn với chị. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của chị T, sửa bản án sơ thẩm giao cháu Thùy D cho chị T nuôi dưỡng.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Cảnh H không đồng ý với nội dung kháng cáo của chị T. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm vì các hành vi bạo lực và các việc làm khác của anh mà chị T đã trình bày là không đúng ảnh hưởng đến anh và gia đình anh; trong quá trình chung sống với anh chị T còn có quan hệ với những người đàn ông khác; chị T tự ý đưa con về ngoại trong khi con đang theo học tại trường Mầm non H2, thành phố V; thu nhập của chị T không ổn định không nuôi nổi bản thân chị T nên không đủ để nuôi con; chỗ ở cùng bố mẹ đẻ chật chội, môi trường sống, học tập của con không đảm bảo;
cháu Thùy D là con đẻ của anh nhưng hiện nay cháu không mang họ của bố, Giấy khai sinh của cháu không có tên bố trong mục họ tên người cha. Anh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện cơ bản đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án đến khi xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với các đương sự và người tham gia tố tụng khác: Trong vụ án này còn có sự tham gia của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 10, Điều 71; Điều 72; Điều 76; Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Về thủ tục kháng cáo: Chị Phạm Thị T kháng cáo đúng hạn, có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đầy đủ nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý vụ án là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Sau khi xem xét, đánh giá nội dung vụ án, các lời trình bày của các đương sự, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; xem xét đánh giá các tài liệu do các đương sự cung cấp tại cấp phúc thẩm đã đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phạm Thị T, giữ nguyên quyết định về phần nuôi con chung của bản án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn phù hợp các quy định của pháp luật, có nộp tiền tạm ứng án phí nên được chấp nhận để xem xét.
[2] Xét nội dung kháng cáo xin được nuôi con của chị Phạm Thị T:
[2.1] Tại phiên hòa giải ngày 02/12/2022, chị Phạm Thị T xác định cháu Nguyễn Phạm Thùy D, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2018 không phải con chung của chị với anh Nguyễn Cảnh H, chị đã làm thủ tục khai sinh lại thành Phạm Thùy D và bỏ trống tên người cha trong Giấy khai sinh. Anh Nguyễn Cảnh H đã yêu cầu Tòa án xác định cha cho con. Tại Bản án số 08/2023/HNGĐ-ST, ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã xác định anh Nguyễn Cảnh H là cha đẻ của cháu Phạm Thùy D. Tại phiên hòa giải ngày 11 tháng 4 năm 2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T thống nhất thừa nhận: Cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2018 là con chung của anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T. Việc chị T thay đổi Giấy khai sinh của cháu Thùy D đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cháu D. Tại phiên tòa phúc thẩm chị T trình bày việc cấp Giấy khai sinh cho cháu Thùy D là do lỗi của UBND xã T nhưng các tài liệu chị T cung cấp không có nội dung chứng minh cho trình bày này của chị. Từ khi Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn có bản án quyết định anh Nguyễn Cảnh H và cháu Thùy D có quan hệ huyết thống là cha con cho đến nay chị T vẫn không làm lại Giấy khai sinh cho con. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền làm con của cháu D đối với anh H và quyền làm cha của anh H đối với cháu D. Mặt khác, trước khi chị Phạm Thị T đưa con về sinh sống tại N thì cháu Thùy D đang học tập tại Trường Mầm non H2. Trong các năm học 2021 và 2022 đều được Giấy khen là “Bé ngoan”, tinh thần và thể chất của cháu phát triển bình thường. Kết quả này phù hợp với xác nhận của Hiệu trưởng Trương Mầm non H3, nơi cháu Thùy D đã theo học trong các năm học 2021 và 2022. Tại đơn xin xác nhận ngày 14/8/2023 do chị T cung cấp thì Hiệu trưởng Trường Mầm non T1 cũng chỉ xác nhận cháu Thùy D đã trúng tuyển vào lớp MG lớn A năm học 2023-2024 chứ không xác nhận các nội dung khác.
[2.2] Xét về điều kiện nuôi con:
[2.2.1] Điều kiện nuôi con của chị T: Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, chị T cung cấp cho Tòa án giấy xác nhận mức lương thể hiện chị T đang làm việc tại Công ty CP K - Chi nhánh V, Nghệ An với tổng thu nhập bình quân hàng tháng 20.000.000 đồng. Về chỗ ở: Hiện tại chị Phạm Thị T và cháu Phạm Thùy D đang sống cùng với bố mẹ đẻ và gia đình em trai của chị Phạm Thị T tại xã T, bố mẹ chị cam kết sẽ cho mẹ con chị T ở tại nhà ông bà cho đến khi cháu Thùy D đủ 18 tuổi. Kết quả xác minh thể hiện hiện nay cháu Thùy D đang sống cùng ông bà ngoại và cậu mự tại xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An.
[2.2.2] Xét về điều kiện nuôi con của anh H: Quá trình giải quyết vụ án tại
Tòa án cấp sơ thẩm, anh H đã cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh hiện nay đang có chỗ ở ổn định tại phòng F chung cư C, khối C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Anh H hiện đang là Giám đốc Công ty TNHH T2, trụ sở tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; thu nhập từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng. Nguồn thu nhập của anh H thể hiện ở Báo cáo tài chính hàng tháng của Công ty.
Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm, anh Nguyễn Cảnh H cung cấp tài liệu là trích sao chi tiết trên hệ thống quản lý B của chị T thể hiện từ năm 2014 đến tháng 10/2022. Công việc của chị T là nhân viên giới thiệu dịch vụ xe máy với mức lương giao động từ 2.600.000 đồng đến 5.067.400 đồng; tháng 11/2022 chị T nghỉ việc không lương chốt sổ bảo hiểm, từ tháng 11/2022 đến nay không phát sinh hợp đồng lao động nào, không có công việc và thu nhập ổn định. Tuy các tài liệu này do anh H cung cấp là bản phô-tô không có công chứng hoặc chứng thực nhưng phù hợp với các tài liệu đã được chứng thực do chị T cung cấp cho Tòa án nên có căn cứ để xem xét.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T khai hiện nay chị đang là cộng tác viên cho nhiều công ty như Công ty CP K ngữ Kim jojo - Chi nhánh V, Nghệ An từ 01/8/2023, Cộng tác viên cho Công ty H4 từ năm 2016 đến tháng 7/2022. Ngày 10/8/2023, Tòa án cấp phúc thẩm đã tiến hành xác minh tại Công ty CP K - Chi nhánh V, Nghệ An được biết hiện nay chị T đã nghỉ việc và không rõ thu nhập của chị T là bao nhiêu tiền/tháng. Như vậy, các tài liệu chứng minh công việc cũng như thu nhập của chị T cho thấy không ổn định, không đủ điều kiện về kinh tế để đảm bảo cuộc sống cho cả mẹ và con.
Chị T còn cung cấp cho Tòa án bản trình bày nguyện vọng của cháu Thùy D là muốn được ở với mẹ. Tài liệu này do chị T viết, có dấu điểm chỉ của cháu D, có chữ ký xác nhận của xóm trưởng. Xét thấy cháu Thùy D hiện nay chưa đủ 07 tuổi, theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình thì Tòa án chỉ phải lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên nên tài liệu này không được chấp nhận để xem xét.
Ngoài ra, chị T còn cung cấp các tài liệu khác cho Tòa án, xét thấy các tài liệu đó không liên quan đến nội dung kháng cáo của chị T nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Chị T kháng cáo nhưng chỉ cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm tài liệu chứng minh chị đang có sổ tiết kiệm 200.000.000 đồng; Anh H cung cấp các tài liệu khẳng định sự quan tâm của người cha đối với người con, như công việc, thu nhập, chỗ ở ổn định đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của con. Mặt khác, hiện nay, trong Giấy khai sinh của cháu D vẫn đang mang họ mẹ, phần khai về người
cha đang bỏ trống.
Anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Thùy D đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành là chính đáng. Anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T đều có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Tuy nhiên, việc giao con chung cho một người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cần căn cứ vào quy định của pháp luật và điều kiện thực tế. Từ những phân tích, đánh giá trên, thấy rằng, anh Nguyễn cảnh H1 có đủ điều kiện để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu Thùy D nhiều hơn chị Phạm Thị T, do đó không chấp nhận kháng cáo của chị T, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung giao cháu Phạm Thùy D cho anh Nguyễn Cảnh H chăm sóc, nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.
Đối với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là có căn cứ, phù hợp với bản chất vụ án và các quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[3]. Về án phí: Bị đơn, chị Phạm Thị T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của chị Phạm Thị T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 68; Điều 69; Điều 70; Điều 71; Điều 72; Điều 73; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Cảnh H.
1.1. Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Cảnh H và chị Phạm Thị T.
1.2. Buộc chị Phạm Thị T giao cháu Phạm Thùy D, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2018 cho anh Nguyễn Cảnh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Chị Phạm Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở.
Trên cơ sở lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá
nhân, tổ chức theo quy định tại Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
1.3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Phạm Thị T. Khi có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, các bên có quyền tự thỏa thuận hoặc khởi kiện vụ án về yêu cầu cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
1.4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau có phát sinh tranh chấp thì các đương sự có quyền khởi kiện đến Tòa án bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí:
2.1. Án phí sơ thẩm: Anh Nguyễn Cảnh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004781, ngày 21 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Cảnh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Án phí phúc thẩm: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn) án phí dân sự phúc thẩm. Chị T đã nộp đủ theo Biên lai số 0004967 ngày 08/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
3. Về thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay./.
|
Nơi nhận:
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA Phạm Thị Thúy Quỳnh. |
|
CÁC THẨM PHÁN |
|
|
Hồ Ngọc Tiếp |
Hoàng Ngọc Anh |
Bản án số 15C/2023/HNGĐ-PT ngày 18/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 15C/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
