|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:15B/2024/HNGĐ-ST Ngày 07-5-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Việt Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Tiến và bà Vũ Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái tham gia phiên tòa:Bà Trần Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 182/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N - sinh năm 1992
Nơi cư trú : Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Địa chỉ hiện nay: Trường Trung học phổ thông Đ1 - Số C H, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Nhâm Trần Đ – sinh năm 1991
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Chị N, anh Đ xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện,bản tự khai cùng tài liệu chứng cứ đã xuất trình, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:
Chị và anh N1 Trần Đ quen biết và tìm hiểu nhau một cách tự nguyện, sau đó kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 05/3/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm việc tại Hà Nội, nhưng quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống, lối sống, vợ chồng bất đồng nhau về kinh tế, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 9/2022 đến nay. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xem xét giải quyết cho chị và anh Đ được ly hôn.
- Về con chung: Chị và anh Nhâm Trần Đ có 01 con chung là Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019 hiện đang sống cùng chị. Ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Đ góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Nhâm Trần Đ không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nhâm Trần Đ, triệu tập anh Đ đến tòa án để trình bày quan điểm về việc chị N làm đơn ly hôn nhưng anh Đ không có văn bản trả lời.
* Theo biên bản lấy lời khai của bà Nguyễn Thị N2 – sinh năm 1969; nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là mẹ đẻ của anh N1 Trần Đ khai: Chị N và anh Đ là vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Hiện tại anh Đ vẫn sinh sống tại địa phương, vì lý do công việc nên thi thoảng anh mới về. Quá trình chung sống bà có biết việc chị N anh Đ mâu thuẫn, chị N làm đơn ly hôn anh Đ tại TAND huyện Thái Thụy, anh Đ cũng biết việc này. Bà đã vun vén cho hai vợ chồng, muốn hai vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng chị N và anh Đ không đoàn tụ được. Nay chị N kiên quyết ly hôn, quan điểm của anh Đ cũng đồng ý ly hôn chị N nên đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để giải quyết.
Quá trình chung sống chị N và anh N1 Trần Đ có 01 con chung là Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019 hiện đang sống cùng chị N. Anh Đ cũng đồng ý khi ly hôn thì giao con chung cho chị N nuôi dưỡng, việc cấp nưỡng thỏa thuận nuôi con do anh Đ và chị N tự thỏa thuận, bà không có ý kiến.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh N1 Trần Đ có tài sản chung, nợ chung hay không thì bà không biết được. Anh Đ không về Tòa án để giải quyết việc ly hôn, anh Đ có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Tại biên bản xác minh ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại UBND xã T cung cấp: chị N và anh Đ đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhưng nguyên nhân mẫu thuẫn cụ thể như thế nào địa phương không nắm được. Hiện nay chị N, anh Đ không sinh sống cùng nhau. Anh Đ là lao động tự do, vẫn cư trú, sinh sống tại địa phương, chưa chuyển khẩu, tách khẩu đi đâu. Nay chị N làm đơn ly hôn anh Đ, địa phương đề nghị Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, nếu không đoàn tụ được đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống chị N và anh Đ có có 01 con chung là Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019 hiện đang sống cùng chị N. Ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện sống của 2 vợ chồng, sự ổn định của các cháu và nguyện vọng của con chung để giao con chung cho người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc. Về tài sản chung, nợ chung đương sự không có yêu cầu nên địa phương không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy phát biểu quan điểm tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự;
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147 BLTTDS, căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH: Xử cho chị N được ly hôn anh Đ. Về con chung: Giao con chung Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận chị Trần Thị N không yêu cầu anh Nhâm Trần Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Nhâm Trần Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung theo quy định của pháp luật. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản, nên không đặt ra giải quyết. Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thẩm quyền: Anh Nhâm T - bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình vì vậy đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N, anh Đoàn kết h trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị N, anh Đ phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không có biện pháp để hàn gắn quan hệ hôn nhân, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Qua xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, chính quyền địa phương xác nhận chị N, anh Đ có mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị N, anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị N được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về quan hệ con chung: Chị N, anh Đ có 01 con chung là Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019, hiện đang ở cùng chị N. Hiện tại con chung còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, anh Đ không đến Tòa án làm việc và không có văn bản trả lời về việc ly hôn, nuôi con khi vợ chồng ly hôn. Để đảm bảo cho sự phát triển ổn định của con chung căn cứ quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, giao con chung Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận chị Trần Thị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định pháp luật.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản do đó Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về quan hệ tài sản.
- Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh N1 Trần Đoàn.
-
Về con chung: Giao con chung Nhâm Khánh L, sinh ngày 03/02/2019 cho chị Trần Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Trần Thị N không yêu cầu anh Nhâm Trần Đ cấp dưỡng nuôi con..
Anh Nhâm Trần Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung. Anh Nhâm Trần Đ và chị Trần Thị N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật khi cần thiết.
- Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000đ chị N đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004005 ngày 23 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí. Chị Trần Thị N đã nộp xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị N và anh N1 Trần Đoàn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Việt Hưng |
5
Bản án số 15B/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 15B/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
