Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỆ THỦY

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15a/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-6-2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Quang Huy; Ông Lê Quang Thạch;

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thơm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/01/2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 09/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị D, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình – có mặt;

Bị đơn: Anh Trần Thanh H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình – vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn chị Cao Thị D trong đơn khởi kiện đề ngày 05/01/2024, bản tự khai ngày 28/02/2024 và tại phiên tòa trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị D và anh Trần Thanh H yêu nhau và tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 25/7/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại K. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 11 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh H lạnh nhạt với mẹ con chị D, bỏ đi làm ăn xa kể từ năm 2019 cho đến nay, không còn quan tâm đến vợ con. Hiện nay anh H đã có mối quan hệ mới với một người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân đã được 05 năm, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Xác định tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Thanh H.

Về con chung: Vợ, chồng có ba con chung là Trần Tấn P, sinh ngày 14/01/2008; Trần Tấn P1, sinh ngày 23/4/2014; Trần Thị Thiên P2, sinh ngày 03/01/2019. Hiện các con đang sống cùng với mẹ, chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con kể từ khi anh H bỏ nhà đi. Khi ly hôn, chị D có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cả ba con, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng/con.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm, bị đơn anh Trần Thanh H được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định của pháp luật mà anh H không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị D. Đồng thời, Toà án cũng đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải; tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà, nhưng bị đơn là anh Trần Thanh H vắng mặt không lý do nên không tiến hành hoà giải được, cũng như nghe ý kiến của anh về yêu cầu ly hôn, dành quyền nuôi con của chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị D xin ly hôn anh Trần Thanh H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con, được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Toà án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì chị Cao Thị D và anh Trần Thanh H tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện L, tỉnh Quảng Bình vào ngày 25/7/2007, nên hôn nhân giữa chị Dương Thị H1 và anh Trần Thanh H là hợp pháp.

[3] Về mâu thuẫn: Theo trình bày của nguyên đơn, chị D trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, vợ chồng chị chung sống với nhau được 11 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do anh H lạnh nhạt với mẹ con chị D, bỏ đi làm ăn xa kể từ đó cho đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của vợ con. Hiện nay anh H đã có mối quan hệ mới với một người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân đã được 05 năm, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Tại phiên tòa, chị Cao Thị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh Trần Thanh H.

[4] Qua xem xét, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Cao Thị D và anh Trần Thanh H thực tế đã xảy ra trong một thời dài không thể hàn gắn được, nguyên nhân theo chị Cao Thị D là do anh Trần Thanh H lạnh nhạt với mẹ con chị D, bỏ đi làm ăn xa từ năm 2019 cho đến nay. Bỏ mặc cho cuộc sống của vợ con. Nhận thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị D đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên, xử cho chị Cao Thị D ly hôn anh Trần Thanh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về nuôi con chung: Chị Cao Thị D và anh Trần Thanh H có ba con chung là Trần Tấn P, sinh ngày 14/01/2008, bị tai nạn giao thông, hiện đang điều trị, chưa đi lại được; Trần Tấn P1, sinh ngày 23/4/2014; Trần Thị Thiên P2, sinh ngày 03/01/2019 hiện đang sống cùng với mẹ. Khi ly hôn, chị D có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cả ba con, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng/con. Các con Trần Tấn P và Trần Tấn P1 có nguyện vọng được sống cùng với mẹ khi bố mẹ ly hôn. Anh Trần Thanh H mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên anh không có ý kiến gì đối với việc nuôi con và vắng mặt tại phiên toà nên được xem là anh Trần Thanh H đã từ bỏ quyền nuôi con. Để tránh việc thay đổi môi trường sống, để đảm bảo cho các con phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao các con Trần Tấn P, Trần Tấn P1, Trần Thị Thiên P2 cho chị D tiếp tục chăm sóc cho đến khi các con trưởng thành.

Hội đồng xét xử thấy rằng, nhu cầu về sinh hoạt phí của các con về ăn, mặc và tiền học phí hiện nay khoảng 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng/01 cháu/1 tháng nên yêu cầu của chị D yêu cầu anh H cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng/tháng/con là có cơ sở để chấp nhận nên cần buộc anh H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung là 1.000.000 đồng/con/tháng cho đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp.

Sau này vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh H không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Về án phí: Nguyên đơn chị Cao Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Anh Trần Thanh H phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị D
  2. Xử cho chị Cao Thị D ly hôn anh Trần Thanh H
  3. Giao các con Trần Tấn P, sinh ngày 14/01/2008; Trần Tấn P1, sinh ngày 23/4/2014; Trần Thị Thiên P2, sinh ngày 03/01/2019 cho chị D tiếp tục chăm sóc cho đến khi các con trưởng thành. Anh Trần Thanh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng/con. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi các con trưởng thành.

Anh Hoàng Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

Sau này vì quyền lợi của con chung các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.

  1. Về án phí: Nguyên đơn chị Cao Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo biên lai 0004281 ngày 08/01/2024 (chị Cao Thị D đã nộp đủ án phí). Bị đơn anh Trần Thanh H phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng.
  2. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 07/6/2024); bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Lệ Thủy;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Lệ Thủy;
  • - UBND xã Kim Thủy (để ghi vào sổ Hộ tịch, ĐKKH ngày 25/7/2007);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15a/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 15a/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger