TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1599/2024/DS-ST
Ngày 26/4/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi
- Bà Nguyễn Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1703/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1166/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1875/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Mirae Asset (Việt Nam);
Trụ sở: Số 91, đường Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Thị Hà Vy, sinh năm 2001 (Giấy ủy quyền ngày 22/01/2024) (Có đơn đề nghị vắng mặt).
Địa chỉ: Phòng 401, Tầng 4, Tòa nhà số 793/49/1 đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Bà Lê Nguyễn Cẩm Tú, sinh năm 1995 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 48/4 Đường số 5, phường Linh Trung, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Công ty T2 (Việt Nam) – bà Huỳnh Thị Hà V trình bày:
Ngày 05/05/2022 Công ty T2 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T2) ký Hợp đồng tín dụng số: 3121161 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Lê Nguyễn Cẩm T với khoản vay trị giá 42.640.000 đồng. Sau khi ký kết, Công ty T2 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bà Lê Nguyễn Cẩm T. Theo Hợp đồng tín dụng, bà Lê Nguyễn Cẩm T có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng với số tiền là 2.705.011 đồng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 05/06/2022 đến ngày 05/05/2024.
Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, từ ngày 21/02/2023 bà Lê Nguyễn Cẩm T đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T2 đã giải ngân. Công ty T2 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà Lê Nguyễn Cẩm T thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T2 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà Lê Nguyễn Cẩm T biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Công ty T2 đã gởi thông báo nhắc nợ nhưng bà T vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng cho phía Công ty.
Do đó, Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc bà Lê Nguyễn Cẩm T thanh toán cho Công ty T2 số tiền tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: 62.914.655 đồng. Trong đó: Nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 34.710.227 đồng; Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 13.385.524 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 13.616.623 đồng và số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 1.202.231 đồng.
Ngoài ra, bà Lê Nguyễn Cẩm T phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 3121161 kể từ ngày 27/4/2024 cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Công ty T2 (Việt Nam).
Bị đơn bà Lê Nguyễn Cẩm T vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai của bà T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số nợ gốc, lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết; Bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán.
Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng 3121161 ngày 27/4/2022, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Bị đơn bà Lê Nguyễn Cẩm T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng mời đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên bà T vắng mặt không rõ lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T2 (Việt Nam) – Bà Huỳnh Thị Hà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, bà V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:
Ngày 12/3/2024, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các bên đã biết rõ tất cả và không khiếu nại các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, không đề nghị Tòa án thu thập bổ sung chứng cứ, triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu bị đơn trả lại số tiền nợ gốc 34.710.227 đồng.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 của Ngân hàng N thì Công ty T2 được thực hiện các hoạt động của Công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng N, trong đó Công ty được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng.
Trên cơ sở giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT-CA số OID-B1.0-1D của Trung tâm D1 về việc chứng thực chữ ký số của bà Lê Nguyễn Cẩm T. Ngày 27/4/2022, Công ty T2 đã ký đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3121161 với bà Lê Nguyễn Cẩm T với nội dung Công ty T2 đồng ý cho bà T vay số tiền 42.640.000 đồng, trong đó khoản vay 40.000.000 đồng và phí bảo hiểm 2.640.000 đồng; Mục đích vay: Vay mua hàng; Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 05/4/2024; Lãi suất vay hàng tháng: 3,67%/tháng (tương ứng 44%/năm, một năm là 365 ngày); ngày thanh toán: Ngày 05 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 05/6/2022. Như vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng tín dụng số 3121161 ngày 27/4/2022, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức của giao dịch được xác lập thông qua phương thức điện tử phù hợp với quy định tại Điều 117; Điều 118; Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1, Điều 22, Điều 34, Điều 36 Luật giao dịch điện tử năm 2005, do đó có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.
Công ty T2 đã giải ngân số tiền 40.000.000 đồng theo Phiếu báo nợ ngày 05/5/2022 vào tài khoản số 18227997 của bà T mở tại Ngân hàng TMCP Á, đồng thời chuyển toàn bộ số tiền bảo hiểm 2.640.000 đồng cho Công ty cổ phần B (Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm số B.MCFE03.835801418). Theo bảng tính lãi do nguyên đơn cung cấp, quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã thanh toán cho Công ty T2 số tiền 16.790.066 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.929.723 đồng; Nợ lãi: 8.800.343 đồng; Nợ phí: 60.000 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 34.710.162 đồng.
Kể từ ngày 21/02/2023, đến nay bà T không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào cho Công ty T2.
Tòa án đã tiến hành đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc khởi kiện của bà T, thông báo về việc công khai chứng cứ và hòa giải và việc triệu tập của Tòa án đến tham dự các phiên họp, phiên tòa nhưng bà T vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản phản đối, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Công ty T2 không thuộc trường hợp phải chứng minh. Bà T phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T2 đưa ra. Việc bà T không thanh toán đầy đủ khoản vay đã vi phạm thỏa thuận các bên tại Điều 8 Hợp đồng tín dụng; Điều 7 và Điều 11 bản điều khoản và điều kiện cho vay, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T2, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Mirae A buộc bà T phải trả cho Mirae A số tiền nợ gốc là 34.710.227 đồng.
[2.2] Đối với yêu cầu buộc bà T trả số tiền lãi tạm tính đến ngày tiền tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: Số tiền lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 13.385.524 đồng; Số tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 13.616.623 đồng và số tiền lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 1.202.231 đồng.
Khoản 3.7 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:
“3.7 Lãi suất vay hàng tháng là 3.67%/tháng (tương đương 44%/năm (một năm 365 ngày)).
Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T2 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 8.3 Điều 8 của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng.
Xét, mức lãi suất đã được các bên tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà T phải trả cho Công ty Mirae Asset số tiền lãi tạm tính đến ngày 26/4/2024, cụ thể:
- Lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 13.385.524 đồng;
- Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 13.616.623 đồng;
- Lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 1.202.231 đồng.
Tổng cộng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: 62.914.655 đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà T còn phải còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3121161 lập ngày 27/4/2022.
[2.3] Đối với nội dung phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.
[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 278, Điều 280, Điều 282, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 32a, Điều 32c, Điều 32e Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
Căn cứ Điều 1, Điều 22, Điều 34, Điều 35, Điều 36 Luật Giao dịch điện tử năm 2005;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
Căn cứ khoản 1 Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty T2 (Việt Nam):
Buộc bị đơn – Bà Lê Nguyễn Cẩm T phải thanh toán cho Công ty T2 (Việt Nam) tổng số tiền còn nợ đối với Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3121161 lập ngày 27/4/2022, tạm tính tới ngày 26/4/2024 là: 62.914.655 đồng, trong đó:
- Nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 34.710.227 đồng đồng;
- Lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi phát sinh trong hạn): 13.385.524 đồng;
- Lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn (lãi phạt gốc): 13.616.623 đồng;
- Lãi chậm trả tính trên lãi quá hạn chưa thanh toán (lãi chậm trả): 1.202.231 đồng Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, bị đơn – Bà Lê Nguyễn Cẩm T còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 3121161 lập ngày 27/4/2022.
Các bên thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn – Bà Lê Nguyễn Cẩm T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.145.733 (Ba triệu một trăm bốn mươi lăm nghìn bảy trăm ba mươi ba) đồng.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn – Công ty T2 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.199.710 (Một triệu một trăm chín mươi chín nghìn bảy trăm mười) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006127 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Hương Huỳnh Tiến D | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị T1 |
Bản án số 1599/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1599/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
