TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 1592/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19-6-2025 V/v ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Ông Trần Đăng Vạn
- 2/ Ông Mai Thanh Giàu
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 660/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 5027/2025/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5028/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1993.
Địa chỉ: số I Đường số 1, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2/ Bị đơn: Ông Trần Minh H, sinh năm 1991.
Địa chỉ: số D Đường số I, khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 06/3/2025, bản tự khai ngày 04/4/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Á trình bày: Bà và ông Trần Minh H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07 quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2012
2
(được cải chính chữ đệm và ngày tháng năm sinh của người vợ từ Nguyễn Như Á1, sinh ngày 24/3/1993 thành Nguyễn Ngọc Á, sinh ngày 09/10/1993). Sau khi kết hôn, bà và ông H chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó, bà phát hiện ông H có sử dụng ma túy. Bà và gia đình đã động viên ông H đi cai nghiện, nhưng chỉ được một thời gian ông H lại tiếp tục sử dụng. Vì tin tưởng chồng và vì con cái còn nhỏ nên bà đã cho ông H rất nhiều cơ hội. Rất nhiều lần bà phải bỏ tiền ra chuộc lại các tài sản, giấy tờ mà ông H đem đi cầm. Bà động viên, thậm chí còn làm các giấy tờ để ông H tìm việc làm nhưng ông H vẫn không chịu đi làm. Từ cuối năm 2023, giữa bà và ông H phát sinh mâu thuẫn trầm trọng: vợ chồng thường xuyên cãi nhau vì ông H không chịu đi làm, chỉ biết ăn chơi nhậu nhẹt, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên bà và ông H đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 đến nay. Bà và ông H không thể hòa giải vì bà không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông H nữa. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Minh H.
Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung là Trần Minh K (sinh ngày 14/4/2013) và Trần Ngọc Nhã U (sinh ngày 19/11/2021). Hiện nay hai con chung đang sống với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp trông nom chăm sóc giáo dục con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Hiện nay, bà làm giúp việc gia đình theo giờ lương tháng từ khoảng 15.000.000 đồng – 18.000.000 đồng nên đủ để lo cho các con. Bên cạnh đó mẹ và các em bà cũng hỗ trợ thêm. Bà và 02 con thuê nhà trọ chi phí khoảng 2.500.000 đồng. Từ trước đến nay, các chi phí ăn uống học hành của bà và các con bà đều tự lo. Bản thân ông H không đi làm nên cũng không có thu nhập để cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Trần Minh H đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã chấp hành theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp về ly hôn" về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết; thông báo thụ lý vụ án; triệu tập tham gia tố tụng, thông báo, tổng đạt các văn bản tố tụng; thu thập chứng cứ, tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, đảm
3
bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại các điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với nguyên đơn: Từ khi thụ lý vụ án nguyên đơn tham gia tố tụng tại tòa án thực hiện đúng qui định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đối với bị đơn: Chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Ngọc Á ly hôn với ông Trần Minh H.
Về con chung: Giao con chung tên Trần Minh K và Trần Ngọc Nhã U cho bà Á trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục. Bà Á không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Á xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Á xác định không có.
Án phí sơ thẩm: Bà Á phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Á xin ly hôn với bị đơn ông Trần Minh H; ông H hiện đang cư trú tại địa chỉ số D Đường số I, khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Do đó, căn cứ Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn bà Á tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng khác, người làm chứng nên Hội đồng xét xử không triệu tập người tham gia tố tụng khác, người làm chứng.
4
[3] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.
[4] Về yêu cầu của nguyên đơn:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 07 quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2012 (được cải chính chữ đệm và ngày, tháng sinh của người vợ từ người vợ Nguyễn Như Á1, sinh ngày 24/3/1993 thành người vợ Nguyễn Ngọc Á, ngày sinh 09/10/1993 theo Trích lục cải chính hộ tịch số 21/2023/TLCCHT ngày 14/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T) thì quan hệ hôn nhân giữa bà Á, ông H là hợp pháp.
Nguyên đơn bà Á cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng, giữa bà và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau do ông H không chịu đi làm, chỉ biết ăn chơi nhậu nhẹt. Bà và ông H đã sống ly thân từ tháng 03/2025 cho đến nay. Bà xác định bà không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông H nữa nên bà yêu cầu Tòa án cho bà ly hôn với ông H.
Bị đơn ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H không đến Tòa án để tham gia tố tụng, tham gia phiên tòa. Điều này cho thấy, ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, chưa thực sự coi trọng tình nghĩa vợ chồng. Ông H cũng không cung cấp cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ nào thể hiện tình trạng mâu thuẫn vợ chồng mà bà Á trình bày là không đúng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định trong quá trình chung sống vợ chồng giữa bà Á, ông H có phát sinh mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn các bên không dung hòa được mà càng kéo dài càng trầm trọng. Tuy là vợ chồng nhưng giữa bà Á, ông H không sống chung, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ và thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà Á yêu cầu được ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Theo trình bày của đương sự phù hợp với nội dung Giấy khai sinh số 42/2013 do Ủy ban nhân xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 06/5/2013 (BL 31) và Giấy khai sinh số 271 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/11/2021 (BL 32), có cơ sở xác định: Bà Á, ông H có 02 con chung là Trần Minh K (sinh ngày 14/4/2013) và Trần Ngọc Nhã U (sinh ngày 19/11/2021) và hiện nay 02 trẻ này đang sống cùng với bà Á.
Bà Á yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
5
Hội đồng xét xử xét: Việc giao con cho ai nuôi là căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của người con. Theo trình bày của bà Á và nội dung Văn bản số 314/UBND ngày 13/5/2025 của Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện nay hai con chung đang sống với bà Á, do bà Á chăm sóc nuôi dưỡng; ông H đang ở với cha mẹ, không có việc làm không có khả năng nuôi con.
Bị đơn ông H dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông H vẫn không đến Tòa, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của mình cũng như tài liệu chứng cứ thể hiện việc bà Á nuôi dưỡng con chung không tốt.
Mặt khác, tại Tờ trình bày nguyện vọng ghi ngày 04/4/2025, trẻ Trần Minh K có nguyện vọng được ở với bà Á khi bà Á ông Hải ly H1
Do đó, để tránh xáo trộn, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như việc học tập của trẻ, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Á: Giao con chung tên Trần Minh K và Trần Ngọc Nhã U cho bà Á trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Á không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Bà Á xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Á xác định không có.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bà Á phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
6
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Ngọc Á ly hôn ông Trần Minh H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 07 quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường L, quận T (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/02/2012 cho bà Nguyễn Như Á1, ông Trần Minh H (được cải chính chữ đệm và ngày, tháng sinh của người vợ từ người vợ Nguyễn Như Á1, sinh ngày 24/3/1993 thành người vợ Nguyễn Ngọc Á, ngày sinh 09/10/1993 theo Trích lục cải chính hộ tịch số 21/2023/TLCCHT ngày 14/02/2023 của Ủy ban nhân dân thành phố T) không còn giá trị pháp lý.
- 2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Trần Minh K (sinh ngày 14/4/2013) và Trần Ngọc Nhã U (sinh ngày 19/11/2021) cho bà Nguyễn Ngọc Á trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận việc bà Nguyễn Ngọc Á không yêu cầu ông Trần Minh H cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con.
- 3. Về tài sản chung: Bà Á xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- 4. Về nợ chung: Bà Á xác định không có.
- 5. Về án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn: Bà Nguyễn Ngọc Á phải chịu án phí sơ thẩm 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà Á đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0073689 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Á đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- 6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
- 7. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
7
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hợi |
Bản án số 1592/2025/HNGĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 1592/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà a yêu cầu ly hôn ông H
