Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:159/2024/HSST

Ngày: 30/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Dũng
  • - Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Ngô Thị Yêm.2/ Bà Trần Thị Đông.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 / 7 /2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 139 /2024/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134 ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Tiến D. Giới tính: N.Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1985. tại: Bắc Ninh. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 9/12. Họ tên bố: Vũ Xuân Đ, sinh năm 1957 (còn sống). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1962 (còn sống). Gia đình bị can có 04 anh chị em, bị can là con thứ ba. Vợ: Nguyễn Hoàng Q (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/3/2017, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội Đe dọa giết người (đã xóa án tích).

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày từ ngày 26/02/2023 đến ngày 06/3/2023 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cứ trú.

Có mặt tại phiên toà.

Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Công Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H.

Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 12/2022, Cụt Văn D1 đến xin làm thuê tại cửa hàng bán gạch men ốp lát tại Tổ G, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội của vợ chồng chị Nguyễn Thị M (S: 1981) và anh Nguyễn Văn H (S: 1987) cùng trú tại: Tổ G, thị trấn Đ, huyện Đ. Khoảng 12 giờ ngày 08/12/2022, khi D1 đang trông cửa hàng tại tầng 01 thì phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave, sơn màu xanh đen bạc, BKS: 29E1 - 492.93 của gia đình chị M dựng tại sân vẫn cắm chìa khóa điện tại ổ khóa. Do không có tiền tiêu sài nên D1 nảy sinh ý định trộm cắp xe máy trên đem bán lấy tiền tiêu sài. Sau đó, D1 thu dọn đồ cá nhân rồi lợi dụng vợ chồng chị M đang ngủ trưa, lén lút đến vị trí chiếc xe máy, lên xe rồi nổ máy tẩu thoát về địa phận huyện Q, tỉnh Bắc Ninh để tìm nơi tiêu thụ. Đến trưa ngày 11/12/2022, do chiếc xe máy trộm cắp bị hết xăng nên D1 dùng cờ lê trong cốp xe tháo biển kiểm soát rồi vứt tại ven đường (không nhớ vị trí) để tránh bị phát hiện. Sau đó D1 tiêp tục dắt xe về phía khu vực Cầu N, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến quán sửa chữa và trông giữ xe của Vũ Tiến D thì D1 dắt chiếc xe máy vào quán gặp D. Tại đây, D1 nói “Anh có mua không” thì D nói “Không mua”. Thấy vậy D1 nói tiếp “cho em cắm chiếc xe máy này để lấy tiền về quê”, D nói “xe của ai” thì D1 nói “xe này của chủ Đ, em mang cầm lấy tiền về quê”. Nghe D1 nói vậy, D biết chiếc xe là do D1 trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý nhận cầm cố với giá là: 1.800.000đ. Sau đó D giao tiền cho D1 rồi nhận xe và chìa khóa xe. Sau khi có được tiền từ việc cầm cố chiếc xe máy cho D, D1 bỏ về quê và tiêu sài cá nhân hết số tiền có được.

Chị M và anh H nghi ngờ D1 là đối tượng đã trộm cắp tài sản nên đến trình báo Cơ quan Công an. Vào khoảng đầu tháng 02/2023, chị M hẹn D1 lên cửa hàng để đi làm. Đến ngày 25/02/2023, khi gặp chị M và anh H, D1 thừa nhận đã trộm cắp chiếc xe máy và đưa chị M cùng anh H đến cửa hàng của D. Sau đó chị M báo Công an phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đến giải quyết. Công an phường V đã tạm giữ vật chứng và bàn giao vụ việc cho Công an huyện Đ2 để giải quyết theo thẩm quyền.

* Vật chứng tạm giữ:

  • - Tạm giữ của Vũ Tiến D: 01 xe máy Honda Wave, sơn màu xanh đen bạc, không lắp biển kiểm soát, số máy: 3334818, số khung: 534813 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO;
  • - Tạm giữ của Cụt Văn D1: 01 chứng minh nhân dân mang tên Cụt Văn D1, 01 điện thoại di động Nokia 105 màu đen, 01 mũ lưỡi chai, 01 kính nhựa màu đen, 02 ví giả da màu đen, 01 hộ chiếu mang tên Cụt Văn D1 và số tiền 110.000đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 38 ngày 06/3/2023 của Hội đồng định giá định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave BKS: 29E1 – 49.293 của chị M bị chiếm đoạt trị giá là: 12.000.000đ.

Tại Cơ quan điều tra, Cụt Văn D1Vũ Tiến D khai nhận hành vi vi phạm như trên phù hợp với tài liệu điều tra thu thập được.

Đối với Cụt Văn D1, ngày 25/10/2023 Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và xử phạt Cụt Văn D1 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và quyết định xử lý đối với các tang vật chứng liên quan theo quy định.

Đối với Vũ Tiến D, kết quả điều tra xác định D có tiền sử mắc bệnh tâm thần nên ngày 13/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ2 đã ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với D và Quyết định tách vụ án đối với bị can D để tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định.

Tại bản Kết luận số 14/KLGĐ đề ngày 16/01/2024 của Viện pháp y tâm thần T1, kết luận:

  • Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 11/02/2023, bị can Vũ Tiến D không có bệnh tâm thần. Tại thời điểm trên, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
  • Sau khi phạm tội từ ngày 23/3/2023 đến ngày 07/4/2023, bị can có đợt bị bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F23 bệnh ở giai đoạn cấp tính. Bị can mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
  • Tại thời điểm giám định bị can Vũ Tiến D bị bệnh rối loạn loạn thần cấp và nhất thời. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F23. Bệnh đã được điều trị ổn định, bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Đối với chiếc BKS: 29E1 – 49.293, do Cụt Văn D1 khai không nhớ địa điểm vứt bỏ, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.

Đối với 01 xe máy Honda Wave, sơn màu: Xanh - Đen - Bạc, không lắp biển kiểm soát, số máy: 3334818, số khung: 534813 tạm giữ của Vũ Tiến D, kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị M. Ngày 14/4/2023 Cơ quan Điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho chị M.

Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Cụt Văn D1, 01 mũ lưỡi chai, 01 kính nhựa màu đen, 02 ví giả da màu đen và 01 hộ chiếu mang tên Cụt Văn D1 tạm giữ của D1, kết quả điều tra xác định đều là giấy tờ tùy thân và tài sản của D1, không liên quan đến vụ án. Ngày 24/5/2023 Cơ quan Điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại tài sản trên cho đại diện gia đình của D1.

Về dân sự, chị M không có yêu cầu gì về dân sự, đề nghị xem xét giảm nhẹ cho D1 và xử lý đối tượng D theo quy định của pháp luật.

Tại cáo trạng số 132/CT-VKSÐA ngày 31 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Vũ Tiến D về tội “ Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015,sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định việc truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Xử phạt Vũ Tiến D từ 9 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về dân sự: Không.
  • - Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động OPPO.
  • Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo không phải chịu án phí và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Luật sư bào chữa cho bị cáo sau khi phân tích tính chất của vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo ở mức thấp mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng : Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện Đ đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử.

[2] Về nội dung :

Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Do đó xác định: Vào trưa ngày 11/12/2022, Vũ Tiến D mặc dù biết rõ chiếc xe máy Honda Wave, sơn màu xanh đen bạc, BKS: 29E1 - 492.93 (trị giá: 12.000.000đ) của Cụt Văn D1 là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý nhận cầm cố cho D1 với giá 1.800.000đ tại khu vực Cầu N, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, sau đó bị phát hiện xử lý. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận Vũ Tiến D phạm tội “ Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như kết luận của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:

  • Về nhân thân: Bị cáo đã có 01 tiền án ( Đã được xoá án tích )
  • Về tình tiết tăng nặng: Không.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và thuộc hộ cận nghèo, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo là người khuyết tật, bố mẹ bị cáo đều tham gia chiến tranh biên giới, ông nội bị cáo là người có công với cách mạng

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Hội đồng xét xử thấy bị cáo D phạm tội lần này được coi là phạm tội lần đầu, có lý lịch và nơi cứ trú rõ ràng, nên cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt vấn đề giải quyết.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.

Đối với Cụt Văn D1, ngày 25/10/2023 Tòa án nhân dân huyện Đ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và xử phạt Cụt Văn D1 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và quyết định xử lý đối với các tang vật chứng liên quan theo quy định nên không giải quyết trong vụ án này.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Vũ Tiến D phạm tội “ Chứa chấp tài sản do người khác phạnm tội mà có ”.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Vũ Tiến D 9 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh quản lý, giám sát trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động OPPO theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 6 năm 2023,

Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; Điều 332; Điều 333 bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi Nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND TP Hà Nội
  • - VKSND TP Hà Nội.
  • - VKSND huyện Đ.
  • - Công an huyện Đ.
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Chi cục THA DS huyện Đ.
  • - Sở tư pháp
  • - Lưu hồ sơ vụ án

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠTHẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Bùi Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 159/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào trưa ngày 11/12/2022, Vũ Tiến D mặc dù biết rõ chiếc xe máy Honda Wave, sơn màu xanh đen bạc, BKS: 29E1 - 492.93 (trị giá: 12.000.000đ) của Cụt Văn D là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý nhận cầm cố cho D với giá 1.800.000đ tại khu vực C, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger