Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày 29-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Công Hạ

Ông Trần Đình Điệu

Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 113/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn K, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1988 tại Quảng Ninh. Nơi cư trú: Thôn Y, xã H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn D và bà Trần Thị D1; có vợ là Bùi Thị Chà L và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án, nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2015/HS-ST ngày 05 tháng 8 năm 2015, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trần Văn K 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản" (đã được xóa án tích); Bản án hình sự sơ thẩm số 02/2021/HS-ST ngày 12 tháng 01 năm 2021, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt Trần Văn K 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy" (chưa được xóa án tích); Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 24 tháng 01 năm 2024 đến nay; có mặt.
  2. Trần Văn T, sinh ngày 23 tháng 02 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M và bà Lê Thị T1; chưa có vợ, con; tiền sự: Không; tiền án, nhân thân: Quyết định số 185/2017/QĐ-XLHC ngày 31 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T thời hạn 24 tháng (được tính chưa có tiền sự); Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2016/HS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2016, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Trần Văn T 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản" (đã được xóa án tích); Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2021/HS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Trần Văn T 18 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản" (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06 tháng 3 năm 2024 đến ngày 08 tháng 3 năm 2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
  3. Nguyễn Văn H, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Đỗ Thị T3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 24 tháng 01 năm 2024 đến nay; có mặt.
  4. Phạm Quang T4, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quang T5 và bà Phạm Thị P; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 06 tháng 3 năm 2024 đến ngày 08 tháng 3 năm 2024 chuyển tạm giam đến nay; có mặt.
  5. Nguyễn Bá T6, sinh ngày 22 tháng 6 năm 2006 tại Hải Phòng (khi thực hiện hành vi phạm tội 17 tuổi 06 tháng 27 ngày). Nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá N và bà Hoàng Thị Ơ; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 24 tháng 01 năm 2024 đến nay; có mặt;

- Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Bá T6, Nguyễn Văn H: Ông Trần Minh N1, Trợ giúp viên pháp lý-Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn T7.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 15 giờ 15 phút ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại nhà ở của Phạm Quang T4 thuộc thôn B, xã G, huyện T, Hải Phòng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an huyện T kết hợp với Công an xã G kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn H và Trần Văn K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Phạm Quang T4 bỏ chạy thoát được. Vật chứng thu giữ: Tại mặt đệm giường ngủ nhà T4 có 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế làm bằng vỏ chai nhựa nhãn hiệu "Trà xanh không độ", trên nắp chai nhựa có gắn 01 tẩu thủy tinh bên trong bám dính tạp chất màu đen (nghi là chất ma túy) và 01 bật lửa ga dạng khò; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG đã qua sử dụng của K; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO đã qua sử dụng và 100.000 đồng của H.

Ngoài ra, Trần Văn K tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe môtô biển kiểm soát: 14T7-2663, đã qua sử dụng.

Tiến hành kiểm tra nước tiểu của Trần Văn K và Nguyễn Văn H xác định: H, K đều dương tính với ma túy Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 91/KL-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1, Công an thành phố H kết luận: Tạp chất màu đen trong ống tẩu thủy tinh gửi giám định tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn K và Nguyễn Văn H khai nhận: khoảng 10 giờ 30 phút ngày 18 tháng 01 năm 2024, K và Nguyễn Bá T6 đang ngồi uống nước tại khu vực chân cầu Đ thuộc phường P, thành phố U, Quảng Ninh thì H nhắn tin cho K và T6 qua mạng xã hội Z rủ K, Thủy chung tiền mua ma túy đá để cùng nhau sử dụng, nhưng K và Tó không có tiền. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày thì Đ là bạn xã hội của K (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin cho K rủ góp tiền để mua 500.000 đồng ma túy đá, K đồng ý. Sau đó, K chở T6 đến nhà H để nói với H về việc chung tiền mua ma túy với Đ. H và K thống nhất H góp 200.000 đồng, K góp 100.000 đồng được 300.000 đồng để góp tiền mua ma túy với Đ. Tiền mua ma túy, K sẽ chuyển khoản cho Đ sau. Đ hẹn K đến bãi rác gần Cảng thuộc thôn C, xã G, huyện T, Hải Phòng để lấy ma túy. K bảo T6 đi gặp Đ để lấy ma túy đá còn K và H đi đổ xăng. Sau khi mua được ma túy, do không có dụng cụ để sử dụng nên T6 đã gọi điện cho Trần Văn T để hỏi mượn bộ đồ sử dụng ma túy đá. Sau đó T6 đi cùng T rồi gọi điện thoại qua Z bảo K và H đến nhà Phạm Quang T4 ở thôn B xã G để sử dụng ma túy đá. Tại nhà T4, T nhận túi ma tuý đá từ T6 rồi đổ hết vào tẩu thủy tinh. Sau đó, T lấy chiếc bật lửa ga dạng khò có sẵn trên giường ngủ của T4 để đốt tẩu thủy tinh. T sử dụng trước một lượt rồi lần lượt mời T6, H, K, T4 sử dụng. Sau khi hút được một lượt thì T có việc phải về trước nên đã rủ T6 đi cùng. Sau khi T và T6 đi về thì T4 tiếp tục lấy bật lửa châm lửa đốt tẩu thủy tinh để T4, H và K sử dụng mỗi người một lượt thì hết số ma tuý đá trong tẩu. Sau khi sử dụng ma túy, T4, H và K tiếp tục ngồi trên giường chưa kịp cất dụng cụ sử dụng ma tuý đá thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện. Phạm Quang T4 bỏ chạy còn K và H được đưa về trụ sở Cơ quan Công an để làm việc. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Cơ quan điều tra thu giữ là của H mượn của T6. Trước đó, H mượn điện thoại của anh Nguyễn Bá D2 (anh trai T6) để đăng nhập vào tài khoản Zalo của H nhắn tin cho K và T6. Sau khi nhắn tin xong, H đã thoát tài khoản Zalo của mình và trả điện thoại cho anh D2, không lưu giữ nội dung nào khác trong điện thoại.

Ngày 20 tháng 01 năm 2024, Nguyễn Bá T6 đến Cơ quan điều tra đầu thú. Tiến hành kiểm tra nước tiểu của T6 kết quả dương tính với ma túy Methamphetamine. Tại Cơ quan điều tra, T6 khai nhận phù hợp với lời khai của K, H. Ngày 18 tháng 01 năm 2024, sau khi K bảo đến gặp Đ để lấy ma túy T6 đã về nhà lấy xe mô tô của bố (không nhớ biển số xe) một mình đến khu vực bãi rác gần C để gặp Đ, Đ bảo T6 chở đến khu vực gần chợ xã G, huyện T, Hải Phòng. Tại đây, Đ mượn xe của T6 để đi mua ma túy đá còn T6 đứng chờ. Khoảng 5 phút sau, Đ quay lại đưa cho T6 01 vỏ nilon bao thuốc lá bên trong chứa ma túy đá.

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, Trần Văn T và Phạm Quang T4 đến Cơ quan điều tra đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, T và T4 khai nhận phù hợp với lời khai của K, H và T6. Sau khi nhận được điện thoại của T6, T gọi điện cho Phạm Quang T4 hỏi “Có ai ở nhà không?” và bảo với T4 là có ma túy đá và sẽ đến nhà T4 để sử dụng. Chiếc điện thoại T sử dụng liên lạc với T6 và T4 bị hỏng không sử dụng được nên T đã vứt đi. Chiếc điện thoại T4 sử dụng liên lạc với T, T4 đã làm rơi mất khi đi làm, không thu hồi được.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung trên.

Các bị cáo đều nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai và mong Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Cáo trạng số 133/CT-VKSTN ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Bá T6 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh và hình phạt:

  • + Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn K.
  • + Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.
  • + Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Quang T4.
  • + Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bá T6.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 09 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 09 năm đến 10 năm tù

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 năm đến 10 năm tù

Xử phạt bị cáo Phạm Quang T4 từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T6 từ 06 năm đến 07 năm tù.

Thời hạn tù của các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn H, Nguyễn Bá T6 tính từ ngày 24 tháng 01 năm 2024.

Thời hạn tù của các bị cáo Trần Văn T, Phạm Quang T4 tính từ ngày 06 tháng 3 năm 2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số 91MT/PC09 bên trong chứa 01 tẩu thủy tinh, 01 bật lửa dạng khò đã qua sử dụng, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa nhãn hiệu “trà xanh không độ”.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng gắn sim số 0867.567.134 và 0778.609.263, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng gắn sim số 0339.862.216, số tiền 100.000 đồng.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Bá T6 phát biểu quan điểm bào chữa cho các bị cáo H, T6: Nhất trí với tội danh và điều luật Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố và đề nghị áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Bá T6. Tuy nhiên, bị cáo H và bị cáo T6 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo H có khó khăn thuộc hộ cận nghèo, bị cáo T6 trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo H và bị cáo T6 mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Bá T6 trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, phù hợp biên bản xác minh tin báo, nguồn tin về tội phạm, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 91/KL-KTHS ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại nhà ở của Phạm Quang T4 ở thôn B, xã G, huyện T, Hải Phòng các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn H, Nguyễn Bá T6, Trần Văn T và Phạm Quang T4 đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Trong đó, bị cáo Nguyễn Văn H là người đề xuất, nhắn tin rủ các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Bá T6 góp tiền mua ma túy sử dụng chung. Sau đó các bị cáo H, K cùng góp tiền mua ma túy. Bị cáo K trực tiếp liên lạc với Đ (chưa rõ lai lịch) mua ma túy cho cả nhóm sử dụng. Nguyễn Bá T6 là người trực tiếp đi lấy ma túy, trực tiếp cùng với T chuẩn bị dụng cụ để cả nhóm sử dụng ma túy; Quá trình sử dụng, Trần Văn T là người chuẩn bị dụng cụ, trực tiếp đổ ma túy vào tẩu thủy tinh và đốt ma túy mời các bị cáo khác cùng sử dụng; bị cáo T4 là dùng địa điểm là nhà ở của mình để cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy, sau khi các bị cáo T6, C về, bị cáo T4 châm lửa đốt tẩu thủy tinh để bị cáo cùng với các H, K sử dụng ma túy. Hành vi của các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 đã phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, vi phạm Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. [3] Về tình tiết định khung hình phạt: Các bị cáo đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều người sử dụng, trong đó có Nguyễn Bá T6 tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội bị cáo T6 17 tuổi 06 tháng 27 ngày. Nên các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn H, Trần Văn T, Phạm Quang T4 phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” và “ Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Bá T6 phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
  4. [4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo K và bị cáo T đều có 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án chưa được xóa án tích, 01 tiền án đã được xóa án tích; Bị cáo T còn có một tiền sự được tính không có tiền sự nên bị cáo K và bị cáo T có nhân thân xấu. Các bị cáo H, T6, T4 đều không có tiền án, tiền sự nên các bị cáo có nhân thân tốt.
    • [4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T đều đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên các bị cáo K, T đều phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Trần Văn T, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 đã đến Cơ quan Công an đầu thú, bị cáo H có mẹ đẻ tham gia cách mạng được tặng Kỷ niệm chương, nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. [5] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
  6. [6] Về phân hóa vai trò và mức hình phạt đối với các bị cáo: Vụ án có đồng phạm giản đơn, cần xem xét tính chất và mức độ phạm tội của từng bị cáo để làm căn cứ quyết định hình phạt. Bị cáo Trần Văn K là người cùng với bị cáo H góp tiền mua ma túy, trực tiếp giao dịch với người tên Đ mua ma túy, phân công bị cáo T6 đi lấy ma túy về cho cả nhóm sử dụng nên bị cáo K có vai trò thứ nhất trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Văn H là người đề xuất, nhắn tin rủ các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Bá T6 góp tiền mua ma túy sử dụng, cùng góp tiền với bị cáo K mua ma túy để cả nhóm sử dụng; Bị cáo Nguyễn Bá T6 là người trực tiếp đi lấy ma túy, trực tiếp cùng với bị cáo T chuẩn bị dụng cụ để cả nhóm sử dụng ma túy; Bị cáo Trần Văn T là người chuẩn bị dụng cụ, trực tiếp đổ ma túy vào tẩu thủy tinh và đốt ma túy mời các bị cáo khác cùng sử dụng; Bị cáo T4 dùng địa điểm là nhà ở của mình để cùng các bị cáo khác sử dụng ma túy, sau khi các bị cáo T6, T về, bị cáo T4 châm lửa đốt tẩu thủy tinh để bị cáo cùng với các bị cáo H, K sử dụng ma túy; Nên các bị cáo T, H, T4, T6 có vai trò vai trò bằng nhau và thấp hơn bị cáo K.
    • [6.1] Bị cáo K có vai trò thứ nhất và có nhân thân xấu nên bị cáo K phải chịu mức hình phạt cao nhất. Các bị cáo T, T6, T4, H có vai trò bằng nhau và thấp hơn bị cáo K; bị cáo T có nhân thân xấu nên bị cáo T phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo K nhưng cao hơn các bị cáo T6, T4, H. Các bị cáo T6, T4, H có vai trò thấp nhất trong vụ án và có nhân thân tốt nên các bị cáo phải chịu mức hình phạt bằng nhau và thấp nhất. Bị cáo T6 khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi, 06 tháng 27 ngày. Theo quy định tại Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự bị cáo chỉ phải chịu mức hình phạt bằng 3/4 so với mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội đủ 18 tuổi trở lên.
  7. [7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, các bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  8. [8] Về vật chứng: 01 bì giấy niêm phong số 91MT/PC09 bên trong chứa 01 tẩu thủy tinh; 01 bật lửa dạng khò đã qua sử dụng; 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa nhãn hiệu “trà xanh không độ”, các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
    • [8.1] Một điện thoại bị cáo Trần Văn T sử dụng liên lạc với các bị cáo Nguyễn Bá T6, Phạm Quang T4 và một điện thoại bị cáo Phạm Quang T4 sử dụng liên lạc với Trần Văn T Cơ quan điều tra không thu hồi được.
    • [8.2] Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng gắn sim số 0867.567.134 và 0778.609.263 thuộc sở hữu của Trần Văn K, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng gắn sim số 0339.862.216 thuộc sở hữu của Nguyễn Bá T6; các bị cáo K, T6 sử dụng điện thoại để liên lạc về việc thực hiện hành vi phạm tội, số tiền 100.000 đồng thuộc sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn H sử dụng để đi mua ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  9. [9] Về các nội dung khác: Đối với chiếc xe mô tô BKS14T7-2663 thu giữ của bị cáo Trần Văn K, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị Chà L (là vợ bị cáo K). Chị L không biết việc bị cáo K sử dụng xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L.
    • [9.1] Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS: 15B3-725.27, bị cáo T6 sử dụng đi mua ma túy là của ông Nguyễn Bá N, T6 đã tự ý lấy xe đi. Sau khi đi làm về, phát hiện T6 lấy xe đi, ông N đã bán cho một cửa hàng xe máy ở nội thành H (không nhớ tên, địa chỉ) vào ngày 19 tháng 01 năm 2024. Chiếc xe mô tô bị cáo T sử dụng đi đến nhà T4, sau đó do cần tiền tiêu T đã bán cho một cửa hàng mua bán xe ở bên Hải Phòng (không nhớ tên, địa chỉ).
    • [9.2] Đối với đối tượng tên Đ rủ bị cáo Trần Văn K góp tiền mua ma túy sử dụng và mua ma túy đưa cho T6, quá trình điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
    • [9.3] Quá trình điều tra xác định khi cho bị cáo Nguyễn Văn H mượn điện thoại, anh Nguyễn Bá D2 không biết H sử dụng để liên lạc rủ bạn góp tiền mua ma túy sử dụng nên Cơ quan điều tra không xử lý.
    • [9.4] Các bị cáo Trần Văn T, Phạm Quang T4 khai nhận T và T4 đã 01 lần cùng nhau sử dụng ma túy tại bờ đê gần nhà T nhưng không có ai biết và do thời gian đã lâu nên không nhớ được ngày tháng cụ thể. Ngoài lời khai của T và T4, không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tách ra làm rõ và xử lý sau.
  10. [10] Về án phí: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Song bị cáo H thuộc hộ cận nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H.
  11. [11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn K.

Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Văn T.

Căn cứ điểm b, điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn H và Phạm Quang T4.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Bá T6.

  • -Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 đồng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Văn K 09 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Trần Văn T 08 năm 06 tháng tù
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 08 năm tù
  • - Xử phạt bị cáo Phạm Quang T4 08 năm tù.
  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T6 06 năm tù.

Thời hạn tù của các bị cáo Trần Văn K, Nguyễn Văn H, Nguyễn Bá T6 tính từ ngày 24 tháng 01 năm 2024.

Thời hạn tù của các bị cáo Trần Văn T, Phạm Quang T4 tính từ ngày 06 tháng 3 năm 2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy niêm phong số 91MT/PC09 bên trong chứa 01 tẩu thủy tinh, 01 bật lửa dạng khò đã qua sử dụng, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế bằng vỏ chai nhựa nhãn hiệu “trà xanh không độ”.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đã qua sử dụng gắn sim số 0867.567.134 và 0778.609.263, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng gắn sim số 0339.862.216, số tiền 100.000 đồng.

(Đặc điểm vật chứng Theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên và Biên lai thu tiền số 0007988 ngày 13 tháng 6 năm 2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016: Buộc các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Văn K, Trần Văn T, Nguyễn Văn H, Phạm Quang T4, Nguyễn Bá T6 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan CSĐTCAH Thủy Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an TPHP;
  • - Sở Tư pháp HP; Bị cáo;
  • - Chi cục THADSH Thủy Nguyên;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự tội TCSDMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger