Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HSST

Ngày 29/05/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phan Minh T
  • Ông Vương Đình Q
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương L - Cán bộ Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D - Kiểm sát viên.

Ngày 29/05/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 122/TLST-HS ngày 10/05/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/QĐXXST-HS ngày 14/05/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức M, sinh năm: 1994; HKTT: Số C, ngách E G, G, H, Hà Nội; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn M1, con bà Nguyễn Thị Phương H; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Nguyễn Diệu L, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa

Bị hại: Công ty cổ phần V1

Trụ sở: Tòa nhà V, đường C, khu đô thị S, phường P, quận L, Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khắc T - Trưởng bộ phận An ninh.

Theo Giấy ủy quyền số 240521/2024/GUQ-VHM ngày 21/5/2024

Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 02 năm 2019, Nguyễn Đức M được Công ty Cổ phần V1 ký hợp đồng lao động và giao nhiệm vụ làm Chuyên viên Chăm sóc khách hàng thuộc Ban Q tại lô đất HH, đường P, phường M, N, Hà Nội. Trong quá trình làm việc M phát hiện sơ hở trong khâu quản lý và thanh toán các khoản tiền đặt cọc thi công cho các khách hàng (là các chủ sở hữu của các căn hộ) của công ty V1 và do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên M nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền cọc của các căn hộ thi công, sửa chữa. Vì vậy từ tháng 6 năm 2021 đến tháng 5 năm 2023, Nguyễn Đức M đã làm giả đề xuất thanh toán 13 bộ hồ sơ của các căn hộ chưa đủ điều kiện hoàn cọc, chưa được nghiệm thu, với tổng số tiền đề nghị hoàn cọc là: 184.100.000 đồng. Tất cả số tiền hoàn cọc đều được M đề nghị hoàn về số tài khoản ngân hàng M2 số 6610123969999 mang tên Nguyễn Đức M hoặc của vợ M là Nguyễn Diệu L số tài khoản ngân hàng M2 và ngân hàng T4 số 19030520228011. Cụ thể các căn hộ đã được Nguyễn Đức M đề nghị hoàn cọc chiếm đoạt tiền như sau:

* Tòa W1 do nhân viên chăm sóc khách hàng (CSKH) Hoàng Mai A (SN: 1996, nơi thường trú: L, M, Đ, Hà Nội) phụ trách: Có 03 căn đã được Công ty hoàn cọc, tổng giá trị tiền hoàn cọc là 26.500.000 đồng gồm:

  • Căn hộ W13608, chủ hộ là chị Nguyễn Thị H1 (SN: 1990, nơi thường trú: Tổ A M, N, Hà Nội) thi công cải tạo, tháo dỡ phòng căn hộ, đặt cọc 10.000.000 đồng. Căn hộ này chưa được nghiệm thu, chưa được chị Mai A thông báo thực hiện hoàn cọc nhưng ngày 23 tháng 03 năm 2023, M làm giả đề nghị thanh toán cho kế toán để hoàn tiền thi công cho chủ hộ 8.800.000 đồng vào số tài khoản của M, chiếm đoạt khoản tiền này.
  • Căn hộ W13201, chủ hộ là anh Nguyễn Ngọc T1 (SN: 1988, nơi thường trú: TDP số 2 M, P. M, N, Hà Nội) thi công cải tạo, lắp đặt nội thất, đặt cọc 10.000.000 đồng, đăng ký thi công từ ngày 11/01/2021 đến 15/4/2021. Vào ngày 23 tháng 3 năm 2023, M tự điều chỉnh thêm vào đề nghị thanh toán gửi kế toán, hoàn cọc số tiền 8.800.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M. Đến ngày 20 tháng 4 năm 2024, chị Mai A mới nghiệm thu căn hộ, xác nhận nhật ký thi công và chuyển hồ sơ cho M để đề nghị hoàn cọc số tiền 1.310.000 đồng thì M mới chuyển khoản lại cho anh T1 1.310.000 đồng, M giữ lại 7.490.000 đồng để chi tiêu cá nhân hết.
  • Căn hộ W10308, chủ hộ là anh Trần Tuấn G (SN: 1979, nơi thường trú: A T, H, Hà Nội), thi công dỡ tường phòng, đặt cọc 10.000.000 đồng. Anh G đã có đơn đề nghị hoàn cọc, đã được nghiệm thu nhưng chưa đạt, chưa có nhật ký thi công, chưa đủ điều kiện hoàn cọc. Tuy nhiên, ngày 24 tháng 02 năm 2023, M tự điền

thêm vào trong đề nghị thanh toán hoàn cọc gửi kế toán số tiền 8.900.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M rồi chiếm đoạt khoản tiền này.

* Tòa W2 do nhân viên CSKH chị Nguyễn Hồng N (SN: 1991, nơi thường trú: Số H ngõ B Đ, P. Đ, B, Hà Nội) phụ trách: Có 03 căn đã được Công ty hoàn cọc, tổng giá trị tiền hoàn cọc là 27.880.000 đồng. Các căn hộ này phía Công ty Cổ phần V1 đã thất lạc hồ sơ chứng từ thi công, hoàn cọc gồm các căn:

  • Căn hộ W23711, chủ hộ là anh Lê Duy D (SN: 1990, nơi thường trú: TDP số 3 M, N, Hà Nội), đặt cọc 10.000.000 đồng, hồ sơ hoàn cọc chưa nghiệm thu, chưa đủ điều kiện hoàn cọc, nhưng ngày 24 tháng 02 năm 2023, M đã đề nghị thanh toán hoàn cọc gửi kế toán số tiền 8.900.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M và chiếm đoạt khoản tiền trên.
  • Căn hộ W23510, chủ hộ là anh Nguyễn Văn V (SN: 1991, nơi thường trú: TDP số 7 M, N, Hà Nội) đặt cọc 10.000.000 đồng, đã được nghiệm thu, số tiền đặt cọc được trừ hết vào chi phí thi công, phí phạt nên không hoàn cọc. Tuy nhiên, ngày 24 tháng 02 năm 2023, M đã đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 8.900.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M, rồi chiếm đoạt khoản tiền này.
  • Căn hộ W20802, chủ hộ là chị Nguyễn Thị Kim D1 (SN: 1989, nơi thường trú: Tổ F T, T, Hà Nội), đặt cọc 11.840.000 đồng, đã được nghiệm thu, số tiền đặt cọc được trừ hết vào chi phí thi công, phí phạt nên không hoàn cọc. Tuy nhiên, ngày 24 tháng 02 năm 2023, M đã đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 10.080.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Diệu L, chiếm đoạt khoản tiền này.

* Khối để do nhân viên CSKH anh Trần Trung K (SN: 1994, nơi thường trú: T, K, Ninh Bình) phụ trách: Có 02 căn đã được Công ty hoàn cọc, tổng giá trị tiền hoàn cọc là 96.700.000 đồng.

  • Căn hộ TM04-01, chủ hộ là anh Trần Ngọc T2 (SN: 1979, nơi thường trú: Tổ C T, Cầu G, Hà Nội) thi công sửa chữa, lắp đặt nội thất, đặt cọc 50.000.000 đồng. Hồ sơ hoàn cọc chưa nghiệm thu, chưa đủ điều kiện hoàn cọc, nhưng ngày 04 tháng 04 năm 2023, M đã đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 47.800.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M và chiếm đoạt khoản tiền này.
  • Căn hộ OF04-04, chủ hộ là chị Lưu Thị Kim L1 (SN: 1978, nơi thường trú: TDP số 12 M, N, Hà Nội), thi công cải tạo căn hộ, đặt cọc 50.000.000 đồng. Căn hộ đã nghiệm thu nhưng chưa đạt, chưa đủ điều kiện hoàn cọc. Tuy nhiên, ngày 04 tháng 5 năm 2023, M đã điền thêm vào trong đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 48.900.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M, chiếm đoạt khoản tiền này.

* Tòa W3 do chính Nguyễn Đức M phụ trách: Có 05 căn đã được Công ty hoàn cọc, tổng giá trị tiền hoàn cọc là 33.020.000 đồng.

  • Căn hộ W30211A, chủ hộ là chị Trần Thị H2 (SN: 1983, nơi thường trú: Đ, Y, Bắc Giang), thi công cải tạo, lắp đặt nội thất, đặt cọc 10.000.000 đồng. Căn hộ đã được nghiệm thu đủ điều kiện hoàn cọc số tiền 5.600.000 đồng, nhưng ngày 31 tháng 12 năm 2021, M đã đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 5.600.000 đồng vào tài khoản của vợ M là Nguyễn Diệu L để chiếm đoạt khoản tiền này.
  • Căn hộ W30502, chủ hộ là anh Đặng Đình C (SN: 1985, nơi thường trú: TK P, P, Hà Nội) thi công cải tạo, lắp đặt nội thất, đặt cọc 10.000.000 đồng. Căn hộ đã được nghiệm thu, đã hoàn cọc số tiền 6.370.000 đồng, nhưng ngày 08 tháng 06 năm 2021, M tự đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 6.370.000 đồng vào số tài khoản của vợ M là Nguyễn Diệu L để chiếm đoạt số tiền này.
  • Căn hộ W3 05A11A, chủ hộ là chị Bùi Thị Hà P (SN: 1986, nơi thường trú: TDP số 3 M, N, Hà Nội) thi công cải tạo, lắp đặt nội thất, đặt cọc 10.000.000 đồng. Căn hộ chưa có nhật ký thi công, chưa nghiệm thu, không đủ điều kiện hoàn cọc. Tuy nhiên, ngày 12 tháng 5 năm 2022, M đã đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 7.840.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Đức M để chiếm đoạt khoản tiền này.
  • Căn hộ W32305, chủ hộ là Công ty Cổ phần D2 (Trụ sở: Tầng 5 tòa Rainbow, V, H, Hà Nội) thi công cải tạo, đặt cọc 10.000.000 đồng. Căn hộ chưa có nhật ký thi công, chưa nghiệm thu, không đủ điều kiện hoàn cọc. Tuy nhiên, ngày 23 tháng 4 năm 2022, M tự ý đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 8.380.000 đồng vào số tài khoản của Nguyễn Diệu L để chiếm đoạt khoản tiền này.
  • Căn hộ W31905A, chủ hộ là chị Nguyễn Thị Minh H3 (SN: 1983, nơi thường trú: Tổ I Cụm B H, T, Hà Nội) thi công cải tạo, đặt cọc 10.000.000 đồng. Căn hộ đã nghiệm thu nhưng chưa đạt, có đơn đề nghị hoàn cọc của chủ hộ nhưng chưa đủ điều kiện để hoàn cọc. Tuy nhiên đến ngày 12 tháng 7 năm 2021, M đã tự đề nghị thanh toán hoàn cọc số tiền 4.830.000 đồng vào tài khoản của Nguyễn Diệu L để chiếm đoạt khoản tiền này.

Ngày 09/06/2023, đại diện công ty V1 đã trình báo sự việc đến công an quận N.

Đối với các nhân viên chăm sóc khách hàng Hoàng Mai A, Nguyễn Hồng N, Trần Trung K cho biết đối với các căn hộ thuộc sự quản lý của Mai A, N, K thì tại thời điểm M làm đề nghị hoàn cọc đều chưa đảm bảo điều kiện nên không chuyển hồ sơ cho M đề nhờ M đề nghị thanh toán hoàn tiền cọc thi công sửa chữa căn hộ

cho các căn hộ. Các nhân viên Mai A, N, K không được hưởng lợi do việc M làm các hồ sơ hoàn cọc này.

Qua làm việc với toàn bộ chủ sở hữu các căn hộ nêu trên đều xác nhận không nhận được khoản tiền như trên chứng từ hoàn cọc mà Nguyễn Đức M đã đề nghị thanh toán với Công ty Cổ phần V1, không ủy quyền hay nhờ Nguyễn Đức M nhận hộ tiền hoàn cọc thi công sửa chữa căn hộ.

Đối với chị Nguyễn Diệu L, vợ của Nguyễn Đức M khai: sau khi L và Nguyễn Đức M lấy nhau từ tháng 01/2019 do hai vợ chồng bị hiếm muộn, L hay bị ốm nằm viện nên cả hai tài khoản của Nguyễn Diệu L đều do Nguyễn Đức M sử dụng và quản lý, L không sử dụng và không biết việc M đã nhận chuyển khoản tiền hoàn cọc đến tài khoản của mình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Về dân sự: Ngày 8 tháng 6 năm 2023, bị cáo và gia đình đã bồi thường số tiền 182.790.000 đồng (do trừ đi 1.310.000 đồng là tiền bị cáo đã hoàn cho căn hộ W13201) cho Công ty V1. Công ty V1 không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

Quá trình điều tra, tại cơ quan điều tra Nguyễn Đức M khai phù hợp với lời khai bị hại và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 03/05/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Đức M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c Khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M từ 28 đến 32 tháng tù.

Về dân sự: Công ty cổ phần V1 đã nhận được bồi thường từ gia đình bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.

Về vật chứng: Không

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong

Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 06 năm 2021 đến tháng 05 năm 2023, tại Ban Q, tại lô đất HH, đường P, phường M, N, Hà Nội, Nguyễn Đức M đã có hành vi gian dối làm giả đề xuất thanh toán 13 bộ hồ sơ tiền hoàn cọc thi công, sửa chữa của các căn hộ ở các tòa nhà của Vinhomes West P1 để nhằm chiếm đoạt tiền hoàn cọc này của công ty V1 cụ thể như sau:

  • Ngày 12 tháng 07 năm 2021, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W31905A của chị Nguyễn Thị Minh H3 để nhằm chiếm đoạt số tiền 4.830.000 đồng.
  • Ngày 08 tháng 06 năm 2021, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W30502 của anh Đặng Đình C để nhằm chiếm đoạt số tiền 6.370.000 đồng.
  • Ngày 31 tháng 12 năm 2021, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W30211A của chị Trần Thị H2 để nhằm chiếm đoạt số tiền 5.600.000 đồng.
  • Ngày 23 tháng 4 năm 2022, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W32305 của Công ty Cổ phần D2 để nhằm chiếm đoạt số tiền 8.380.000 đồng.
  • Ngày 12 tháng 5 năm 2022, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W3 05A11A của chị Bùi Thị Hà P để nhằm chiếm đoạt số tiền 7.840.000 đồng.
  • Ngày 24 tháng 02 năm 2023, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W10308 của anh Trần Tuấn G với số tiền 8.900.000 đồng, căn hộ W23711 của anh Lê Duy D với số tiền 8.900.000 đồng, căn hộ W20802 của chị Nguyễn Thị Kim D1 với số tiền 10.080.000 đồng, căn hộ W23510 của anh Nguyễn Văn V với số tiền 8.900.000 đồng để chiếm đoạt tiền của công ty V1 với tổng số tiền là 36.780.000 đồng.
  • Ngày 23 tháng 03 năm 2023, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ W13608 của chị Nguyễn Thị H1 với số tiền 8.800.000 đồng, căn hộ W13201 của anh Nguyễn Ngọc T1 với số tiền 8.800.000 đồng (sau đó M đã hoàn

1.310.000 đồng cho căn hộ W13201) để chiếm đoạt tiền của công ty V1 với tổng số tiền 17.600.000 đồng.

  • Ngày 04 tháng 04 năm 2023, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ TM04-01 của anh Trần Ngọc T2 để chiếm đoạt số tiền 47.800.000 đồng.
  • Ngày 04 tháng 05 năm 2023, M đã làm giả đề xuất thanh toán tiền hoàn cọc thi công căn hộ OF04-04 của chị Lưu Thị Kim L1 để nhằm chiếm đoạt số tiền 48.900.000 đồng.

Tổng số tiền M chiếm đoạt là 184.100.000 đồng (một trăm tám mươi tư triệu một trăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường cho Công ty V1 số tiền 182.790.000 đồng. Đại diện Công ty đã nhận và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.

[3] Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên, lợi dụng những sơ hở trong khâu quản lý trong công việc chung để lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ảnh hưởng đến uy tín, quản lý của Công ty V1, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội gây sự hoang mang cho cư dân đang sinh sống tại V và quần chúng nhân dân nói chung. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 182.790.000 đồng. Đó là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ Luật Hình sự.

Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với từng hành vi của bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo và gia đình đã tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại đầy đủ. Do hoàn cảnh bị cáo và vợ nhiều năm nay phải chữa hiếm muộn nên kinh tế gia đình sa sút, nên bị cáo đã không làm chủ được được bản thân đã phạm tội. Năm 2017 bị cáo được Giám đốc Công an T5 ký Quyết định số 127/QĐ-CSPC&CCHN-P8 về việc hạ sĩ quan chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân xuất ngũ với quân hàm Thượng sỹ. Gia đình bị cáo có công với cách mạng: Ông N1 của bị cáo là Nguyễn Quang T3 được Thủ tướng chính phủ Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao tặng Bằng khen vì đã có thành tích trong công tác từ năm 2001 đến 2005, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Ngày 22/01/2007 UBND tỉnh Y tặng vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; Bố của bị cáo là ông Nguyễn Văn M1 từng công tác tại C1 dừa, ông M1 được khen thưởng vào các năm 2006,

2007, 2010, 2011, 2012, 2014, 2021, 2022, 2023, Mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị Phương H là Giáo viên trường Trung học phổ thông H4, Đ, HN năm 2021 được Bộ trưởng Bộ G1 tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. Năm 2017 được Hội đồng giáo dục trường THPT H4, Hà Nội tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong giảng dạy môn Tiếng Anh, Năm 2023 được Hội đồng giáo dục trường THPT H4, Hà Nội tặng Giấy khen đã có thành tích trong phong trào thi đua Giỏi việc nước đảm việc nhà.

Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: Công ty cổ phần V1 đã nhận được bồi thường đầy đủ từ bị cáo và gia đình bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Tòa án không đề cập giải quyết.

[7] Về vật chứng: Không

[8] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Căn cứ theo điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về dân sự: Công ty cổ phần V1 đã nhận được bồi thường đầy đủ từ bị cáo và gia đình bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Tòa án không đề cập giải quyết.

Về vật chứng: không

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Bị hại
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - Chi cục THA dân sự q. Nam Từ Liêm;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Mai Thị H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HSST ngày 29/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 159/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Mạnh phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger