Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày: 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thúy Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân;
  2. Ông Thái Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Bảo-Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 134/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Thanh T, sinh năm: 1996, nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1, sinh năm: 1970 và bà Phạm Thị Thanh L, sinh năm: 1975; bị cáo có chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 03/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “ Cố ý gây thương tích”, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án theo Bản án số 01/2017/HS-ST.
  • Ngày 29/12/2023, cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 15/12/2023 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Quang V, sinh năm: 1999 tại tỉnh Bình Phước; nơi thường trú: Ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng Q, sinh năm: 1972 và bà Lê Thị Cẩm H, sinh năm: 1982; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử 02 (Hai) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo Bản án số 116/2019/HS-ST ngày 02/8/2019, bị cáo kháng cáo. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2020 và đã đóng án phí.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Duy T2, sinh năm: 2000 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Khóm B, Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở hiện nay: Khu phố E, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H2, sinh năm: 1978 và bà Tạ Thị P, sinh năm: 1979; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/5/2023, Võ Chí C cùng với Châu Nguyễn Lê H3, Phạm Đức T3, Trịnh Trung S1, Đỗ Mạnh C1, Vương Xuân L1, Đặng Phú Q1, Vũ Xuân P1 là nhân viên Công ty TNHH MTV G đến nhà của H4 tại số A đường số C, tổ D, ấp C, xã T, huyện C để xác định lý do thiết bị định bị của xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59Y3-603.55 không còn hoạt động. C1 và P1 đi bộ vào trong sân nhà H4, những người còn lại đứng trước cổng. Lúc này, Nguyễn Quang V đến để chở H4 đi làm thì thấy C1, P1 đang ở trong sân nhà H4. V điện thoại cho Nguyễn Duy T2 chửi T2 về việc dẫn H4 đi vay tiền và để bị nhiều người đến đòi nợ. V điện thoại cho Phạm Thanh T nhờ T giúp V đánh nhau với nhóm đòi nợ do V biết nhóm đòi nợ thu lại chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario biển số 59Y3-603.55 thì T đồng ý. T vào trong nhà lấy từ trong tủ nhôm 01 khẩu súng ngắn và nạp vào hộp tiếp đạn của khẩu súng 06 viên đạn vỏ ngoài bằng kim loại màu vàng, sau khi nạp đạn vào hộp tiếp đạn xong, T gắn hộp tiếp đạn vào khẩu súng, để súng tại vị trí lưng quần trước bên phải. V điều khiển xe mô tô hiệu SH màu đen, chưa rõ biển số chở B (chưa rõ lai lịch) chạy đến nhà T tại ấp C, xã P, huyện C để rước T cùng đến nhà H4. V, T, T2 và B vào trong sân nhà H4 nói chuyện với C1 và P1. C1 và P1 kêu H4 trả nợ hoặc không trả nợ thì đi về Công ty làm việc, V nói “Không đi đâu hết”. Trong lúc V nói chuyện với C1 và P1 thì xảy ra mâu thuẫn, V dùng tay đấm vào mặt P1, T2 lấy ra từ trong người 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại dài khoảng 50cm đánh C1 và P1, V nhặt 01 cây sắt hình hộp chữ nhật dài khoảng 01 mét tại nhà H4 để đánh C1 và P1. Lúc này, những người còn lại trong nhóm C1 gồm H3, T3, S1, Mạnh C1, L1 và Q1 xông vào can ngăn. T lấy ra 01 cây súng ngắn đi vào trong sân tri hô thì nhóm của C1 bỏ chạy, T cầm súng bắn chỉ thiên cảnh cáo 01 phát tại vị trí trước cửa nhà H4. Nhóm của C1 bỏ chạy ra hướng đường bờ kênh, T2 và V cầm hung khí đuổi theo đánh ra đến đường số 386 cách nhà số A khoảng 20 mét, T tiếp tục đuổi theo khoảng 80 mét, nhóm của C1 hô to “Súng đểu” và cả nhóm quay trở lại nhặt đá ném vào người T nhưng không trúng. T bắn hết số đạn còn lại trong súng gồm 05 phát súng vào nhóm của C1 thì cả nhóm bỏ chạy, để lại 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu xanh biển số 62G1-405.75. V vứt bỏ cây sắt hình hộp chữ nhật trở lại trong sân nhà H4, T2 điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner, chưa rõ biển số chạy đến đoạn đường số D thuộc ấp C, xã T, huyện C thì vứt bỏ cây gậy 03 khúc xuống mương ven đường rồi trở về nhà. T kêu V chở về, sau đó T đón xe đến tỉnh Bình Dương lẫn trốn và trên đường đi đến cầu P thì vứt khẩu súng xuống sông thuộc xã B, huyện C, V lẫn trốn ở tỉnh Đắk Lắk, đến ngày 22/5/2023 trở về nhà. Xe mô tô hiệu SH màu đen chưa rõ biển số là của khách gửi V sửa, sau khi V sử dụng đã trả lại cho khách. Phương tiện T2 sử dụng là 01 xe mô tô hiệu Winner X, chưa rõ biển số mượn của bạn tên N (chưa rõ lai lịch), sau khi thực hiện xong hành vi, T2 đã trả lại cho N. Cùng ngày, Võ Chí C đến Công an xã T, huyện C tố giác hành vi của T, V và T2.

Ngày 21/5/2023, C, H3, T3, S1, Mạnh C1, L1, Q1 và P1 có đơn bãi nại, rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với T, V và T2 về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Kết luận giám định số 7379/KLGĐ-TT ngày 23/8/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: “- 01 gói niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có 06 vỏ đạn kim loại, có cùng cỡ 9mm x 22mm, cùng ký hiệu “OZK 9mm P.A” không phải là vũ khí quân dụng; -06 vỏ đạn gửi đến giám định là vỏ đạn của loại đạn công cụ hỗ trợ cỡ 9mm x 22mm, được sử dụng cho một số loại súng ngắn thuộc nhóm công cụ hỗ trợ như: RG88, RG70, SĐN-E112, EKOL, RETAY G19C... và súng tự chế có cỡ nòng và buồng chứa đạn phù hợp với loại đạn này”.

Ngày 09/8/2023, Ủy ban nhân dân xã T, huyện C có Công văn số 1463/UBND về việc xác minh vụ việc “Gây rối trật tự công cộng” như sau: “Vị trí xảy ra vụ việc số 19, đường số C ấp C, xã T, huyện C là khu vực dân cư, khu tập trung nhiều nhà dân sinh sống. Hành vi ngày 20/5/2023 của các đối tượng nhóm 1, nhóm 2 và đồng bọn ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã T, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân sinh sống ở khu vực trên”.

Vật chứng thu giữ:

  • 06 vỏ đạn có đặc điểm bằng kim loại màu vàng, cùng cỡ 9mm x 22mm, cùng ký hiệu “OZK 9mm P.A” nằm rải rác trên đường số C ấp C, xã T, huyện C;
  • 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật kích thước khoảng 6cm x 3cm x 998cm màu trắng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, số I 356716111648821. Ngày 08/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là Phan Nhật H5.

Tại Cáo trạng số 133/CT-VKS-CC ngày 04/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị can Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V và Nguyễn Duy T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Thanh T thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/5/2023, bị cáo đang ở nhà thì bị cáo Nguyễn Quang V điện thoại cho bị cáo nói “Tụi nó đến bắt H5, anh đến giúp em với” thì bị cáo hiểu bị cáo V rủ bị cáo đánh nhóm người đòi nợ thuê đòi lấy xe mô tô hiệu Honda Vario thì bị cáo đồng ý. Bị cáo vào nhà mở tủ lấy 01 khẩu súng ngắn, nạp 06 viên đạn bằng kim loại màu vàng vào hộp tiếp đạn, bị cáo gắn hộp tiếp đạn vào khẩu súng rồi để súng tại phía trước lưng quần bên phải, sau đó bị cáo V điều khiển xe máy hiệu SH phía sau chở người thanh niên chạy đến nhà bị cáo để chở đến của bạn bị cáo V tên H5 tại ấp C, xã T, huyện C. Khi đến nhà H5, bị cáo đứng ngoài cổng thấy có nhóm thanh niên khoảng 08 người đang đứng ở ngoài, có 02 người ở trong sân, bị cáo V, bị cáo T2 và B vào nhà gặp 02 người thanh niên nói chuyện, bị cáo thấy bị cáo V và bị cáo T2 đánh nhau với 03 người thanh niên trước sân nhà, 08 người thanh niên đứng ngoài xông vào sân đánh nhau nên bị cáo lấy 01 cây súng ngắn ra rồi la lên “Tụi bây ra ngoài”, bị cáo bắn chỉ thiên 01 phát cảnh cáo thì nhóm thanh niên bỏ chạy, bị cáo T2 cầm 01 cây côn ba khúc, bị cáo V cầm 01 thanh sắt và bị cáo cầm súng ngắn cùng đuổi theo nhóm thanh niên chạy ra đường số C ấp C, xã T, huyện C được khoảng 80 mét thì nhóm người thanh niên nói “Súng đểu” thì nhóm thanh niên dừng lại, dùng gạch, đá ném trả lại, bị cáo tiếp tục bắn 05 phát đạn vào nhóm thanh niên thì nhóm thanh niên bỏ chạy. Bị cáo được người thanh niên điều khiển xe máy hiệu SH chở về nhà, bị cáo nhờ bị cáo V chở bị cáo ra trạm xe buýt, bị cáo đón xe buýt đến tỉnh Bình Dương để lẫn trốn, khi đi đến cầu P thuộc xã B, huyện C thì bị cáo vứt bỏ khẩu súng ngắn xuống sông. Đến ngày 22/5/2023 bị cáo đến Công an huyện C trình diện, chiếc điện thoại di động mà bị cáo T điện thoại cho V để rủ đến nhà H5 bị cáo đã bán để lấy tiền tiêu xài lúc lẫn trốn tại tỉnh Bình Dương.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Quang V thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 20/5/2023, Nguyễn Nhật H6 điện thoại nhờ bị cáo đến nhà H6 tại ấp C, xã T, huyện C để chở H6 đi làm thì bị cáo đồng ý. Khi đến nhà H6 thì bị cáo thấy có nhóm thanh niên khoảng 10 người đang đứng trước nhà H6, bị cáo biết nhóm thanh niên đến đòi nợ và siết xe của H6 nên bị cáo điện thoại cho bị cáo T2 để chửi vì bị cáo T2 dẫn H6 đi vay tiền với lãi suất cao, bị cáo tiếp tục điện thoại cho bị cáo T nói “Tụi nó đến bắt H6, anh T đến giúp em với”, bị cáo T nói “May đến chở anh”. Bị cáo điều khiển xe máy hiệu SH chở theo người bạn tên B đến nhà bị cáo T thì thấy bị cáo T đang đứng trước nhà, bị cáo chở bị cáo T và người tên B đến nhà H6. Khi đến nhà H6 thì bị cáo thấy có bị cáo T2 đang ở trước sân nhà H6 cùng với 02 người đàn ông, phía ngoài đường có khoảng 08 người đứng ngoài đường, bị cáo cùng với bị cáo T, B vào sân nhà của H6. Bị cáo nói chuyện với 02 người thanh niên đến đòi nợ thì người này chửi bị cáo, bị cáo nóng giận nên dùng tay đánh người thanh niên đeo kính một cái, nhóm người thanh niên đứng ngoài đường chạy vào đánh bị cáo thì bị cáo T2 dùng cây côn ba khúc đánh lại nhóm người thanh niên, lúc này bị cáo T rút khẩu súng ngắn ra và nói “Tụi bây ra ngoài” thì nhóm người thanh niên bỏ chạy. Bị cáo cùng với bị cáo T2 cầm cây côn ba khúc đuổi theo nhóm thanh niên chạy ra đường số C ấp C, xã T, huyện C được khoảng 80 mét thì nhóm người thanh niên nói “Súng đểu” thì nhóm thanh niên dừng lại, dùng gạch, đá ném trả lại, bị cáo T dùng khẩu súng ngắn bắn 05 phát vào nhóm người thanh niên thì nhóm người thanh niên bỏ chạy. Bị cáo đưa xe SH cho người tên B chạy về, còn bị cáo điều khiển xe máy của H6 hiệu Honda chạy về nhà. Sau đó bị cáo bỏ trốn lên tỉnh ĐắkNông. Đến ngày 24/5/2023 bị cáo quay về đến Công an huyện C đầu thú. Chiếc xe máy hiệu SH bị cáo lấy của người khách để sửa, bị cáo đã trả xe máy hiệu SH lại cho khách, còn chiếc điện thoại di động mà bị cáo dùng để điện thoại cho bị cáo T bị cáo đã bán lấy tiền tiêu xài trong lúc đi trốn tại tỉnh Đắk Nông.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Duy T2 thừa nhận hành vi phạm tội và khai rằng: Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 20/5/2023, bị cáo V điện thoại cho bị cáo chửi bị cáo tại sao dẫn H6 đi vay tiền lãi suất cao, giờ người ta đến đòi siết xe. Bị cáo mượn xe máy hiệu Yamaha của người bạn tên N chạy đến nhà H6 tại ấp C, xã T, huyện C thì thấy có nhóm người thanh niên đang đứng trước nhà của H6, có 02 người thanh niên đang đứng trước sân chửi H6, đòi đưa H6 về Công ty để giải quyết việc vay mà không đồng ý, khoảng 10 phút sau thì có bị cáo bảo V chở bị cáo T và người thanh niên đến. Bị cáo V nói chuyện với 02 người thanh niên chuyện gì thì bị cáo nghe không rõ, bị cáo thấy bị cáo V dùng tay đánh người thanh niên đeo kính thì nhóm thanh niên đứng ngoài đường xông vào đánh bị cáo V, bị cáo thấy có cây côn ba khúc của ai để dưới sân nên cầm lên đánh lại nhóm thanh niên để giải vây cho bị cáo V, bị cáo T thấy vậy nên rút khẩu súng ngắn ra và kêu “Tụi bây ra ngoài hết”, thì nhóm thanh niên bỏ chạy ra ngoài đường, bị cáo cầm cây côn 03 khúc cùng với bị cáo V đuổi chạy ra đường số C ấp C, xã T, huyện C được khoảng 80 mét, bị cáo T dùng súng bắn một phát chỉ thiên thì nhóm người thanh niên nói “Súng đểu tụi mày ơi”, nhóm người thanh niên quay lại dùng gạch đá ném lại, truy đuổi bị cáo cùng bị cáo V chạy vào nhà H6, bị cáo T dùng khẩu súng ngắn bắn 05 phát vào nhóm người thanh niên thì nhóm người thanh niên bỏ chạy. Bị cáo điều khiển xe máy quay về nhà nhờ trả lại xe cho người bạn. Chiếc điện thoại mà bị cáo V điện thoại cho bị cáo đã bị hư, bị cáo không còn sử dụng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ nguyên công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T mức án từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù.
  • Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V mức án từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù đến 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù.
  • Áp dụng Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T2 mức án từ 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: 06 vỏ đạn có đặc điểm bằng kim loại màu vàng, cùng cỡ 9mm x 22mm, cùng ký hiệu “OZK 9mm P.A” và 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật kích thước khoảng 6cm x 3cm x 998cm màu trắng.

Các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V và Nguyễn Duy T2 không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Phạm Thanh T nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xử mức án nhẹ.

Bị cáo Nguyễn Quang V nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xử mức án nhẹ.

Bị cáo Nguyễn Duy T2 nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xử mức án nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V, Nguyễn Duy T2 có hành vi sử dụng vũ khí, hung khí gồm súng và 01 cây gậy 03 khúc bằng kim loại và 01 cây sắt hình hộp chữ nhật đuổi đánh nhóm của Võ Chí C, Châu Nguyễn Lê H3, Phạm Đức T3, Trịnh Trung S1, Đỗ Mạnh C1, Vương Xuân L1, Đặng Phú Q1, Vũ Xuân P1 tại đường số C, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 20/5/2023, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Bằng hành vi nêu trên thì các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V và Nguyễn Duy T2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức rõ hành vi của các bị cáo là sai trái, phạm pháp nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội nhằm thoả mãn động cơ các bị cáo, do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý các bị cáo bằng một hình phạt phù hợp quy định pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V, Nguyễn Duy T2 sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại cơ quan Cảnh sát điều tra cũng như tại phiên tòa; bị cáo Nguyễn Duy T2 phạm tội lần đầu; xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, xét tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào về hình phạt là có căn cứ.

Xét hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, gây mất an ninh trật tự công cộng tại khu vực dân cư, gây xôn xao dư luận. Do đó, Hội đồng xét xử xét cần cách ly các bị cáo ra khởi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Trong vụ án này, bị cáo V là người rủ bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý bị cáo V nghiêm hơn các bị cáo khác.

[5] Về vật chứng vụ án:

06 vỏ đạn có đặc điểm bằng kim loại màu vàng, cùng cỡ 9mm x 22mm, cùng ký hiệu “OZK 9mm P.A” nằm rải rác trên đường số C, ấp C, xã T, huyện C và 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật kích thước khoảng 6cm x 3cm x 998cm màu trắng, đây là các công cụ, phương tiện phạm tội, Hội đồng xét xử xét tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này còn có các đối tượng tên Võ Chí C, Châu Nguyễn Lê H3, Phạm Đức T3, Trịnh Trung S1, Đỗ Mạnh C1, Vương Xuân L1, Đặng Phú Q1, Vũ Xuân P1 và Nguyễn Quang T4 tham gia, hiện đã bỏ trốn chưa làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định tách hành vi để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với người tên B không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với các điện thoại di động sử dụng vào việc phạm tội các bị cáo đã bán cho người khác, không thu hồi được nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đề nghị loại trừ nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí:

Buộc các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V và Nguyễn Duy T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V và Nguyễn Duy T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  1. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.

  2. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang V 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  3. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 318, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T2 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

  4. Căn cứ vào Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy: 06 vỏ đạn có đặc điểm bằng kim loại màu vàng, cùng cỡ 9mm x 22mm, cùng ký hiệu “OZK 9mm P.A” và 01 thanh kim loại hình hộp chữ nhật kích thước khoảng 6cm x 3cm x 998cm màu trắng.

    (Các vật chứng nêu trên được liệt kê tại Lệnh nhập kho vật chứng số 528/LNK-ĐCSHS ngày 08/4/2024, Phiếu nhập kho vật chứng số 110/PNK-CSĐT- HS ngày 09/4/2024, Lệnh nhập kho vật chứng số 09/LNK-CSĐT-HS ngày 22/12/2023 và Phiếu nhập kho vật chứng số 09/PNK-CSĐT-HS ngày 22/12/2023).

  5. Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Án phí hình sự sơ thẩm buộc các bị cáo Phạm Thanh T, Nguyễn Quang V và Nguyễn Duy T2 mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

  6. Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thúy Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger