Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày 24 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung
  2. Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 150/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST-HS ngày 09/5/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; bị cáo có 01 chị ruột sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/01/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Đăng H, sinh năm 1970; thường trú: Số A, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

- Người chứng kiến: Nguyễn Thành D, sinh năm 2002. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T thuê trọ và sinh sống tại địa chỉ số B, đường số F, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. T là người sử dụng trái phép chất ma tuý (loại Methamphetamine).

Khoảng 13 giờ ngày 26/01/2024, T đang đứng trước phòng trọ do T thuê, địa chỉ số B, đường số F, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì đối tượng N (chưa rõ nhân thân, lai lịch), là bạn quen biết của T đi ngang qua nên T và N đứng nói chuyện. Trước khi về, N đưa cho T 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong đựng 06 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (gồm 05 gói nhỏ và 01 gói lớn hơn), N nói với T là “giữ số ma tuý này mà sử dụng”, do N sắp về quê không mang theo được nên T nhận lấy. Sau khi N về, T vào phòng trọ rồi lấy 06 gói mà tuý mà N cho bỏ vào trong một hộp giấy và cất ở góc nhà, còn túi nylong miệng kéo dính thì T vứt đi. Đến khoảng 20 giờ ngày 27/01/2024, khi T đang ở trong phòng trọ một mình thì Lực lượng Công an phường D tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện trên sàn nhà có 01 nắp chai bằng nhựa có gắn 01 nỏ thuỷ tinh và 01 ống hút. Lúc này, T đã lấy hộp giấy đựng 06 gói nylon hàn kín chưa tinh thể màu trắng mà T để ở góc nhà ra và giao nộp cho lực lượng Công an. Công an phường D tiến hành niêm phong vật chứng và đưa T về trụ sở để làm việc. Sau đó, Công an phường D chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 06 (sáu) gói nylon hàn kín (05 gói nhỏ, 01 gói lớn); 01 (một) ống thuỷ tinh, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) nắp chai nhựa.

Tại Kết luận giám định số: 756/KL-KTHS(MT) ngày 02/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • - Mẫu tinh thể màu trắng trong 05 (năm) gói nilon miệng hàn kín (ký hiệu M1) có khối lượng 0,9078 gam là ma túy loại Methamphetamine.
  • - Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nilon miệng hàn kín lớn (ký hiệu M2) có khối lượng 1,1017 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Ngày 05/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng số: 169/CT-VKS-DA ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 (một) năm 09 (chín) tháng đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

- Xử lý vật chứng:

+ Đối với 05 (năm) gói nilon miệng hàn kín (ký hiệu M1) có khối lượng: 0,8928 gam là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) gói nilon miệng hàn kín lớn (ký hiệu M2) có khối lượng: 1,0456 gam là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) ống thuỷ tinh, 01 (một) ống hút nhựa, 01 (một) nắp chai nhựa thu giữ cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với đối tượng N hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D sẽ tiếp tục tiến hành xác minh, xử lý sau.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng. Đồng thời tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Vào ngày 26/01/2024, tại phòng trọ địa chỉ số B, đường số F, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 2.0095 gam ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Hành vi trên của Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 169/CT - VKS ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, mới tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú những tình tiết giảm nhẹ trên được quy định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy.

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 05 (năm) gói nilon miệng hàn kín (ký hiệu M1) có khối lượng: 0,8928 gam là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) gói nilon miệng hàn kín lớn (ký hiệu M2) có khối lượng: 1,0456 gam là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) ống thuỷ tinh; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) nắp chai nhựa thu giữ trong vụ án.

[8] Đối với đối tượng N hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục tiến hành xác minh, xử lý sau.

[9] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    - Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) gói nilon miệng hàn kín (ký hiệu M1) có khối lượng: 0,8928 gam; 01 (một) gói nilon miệng hàn kín lớn (ký hiệu M2) có khối lượng: 1,0456 gam là ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) nỏ thuỷ tinh; 01 (một) ống hút nhựa; 01 (một) nắp chai nhựa.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/5/2024.

  3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người có QL&NVLQ (02);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại tạm giam CA tỉnh BD (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger