|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 159/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 4 -2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Trần Thị Thu Thanh.
- - Ông Võ Văn Phong.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 450/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/3/2024, quyết định hoãn phiên toà số 479/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29/3/2024, giữa các bên đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1995
- Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.
- - Bị đơn: Anh Trần Minh C, sinh năm 1993
- Địa chỉ: Thôn K, xã X, thị xã H, tỉnh Bình Định.
Chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2023, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Đặng Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Minh C tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H ngày 01/12/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống cùng gia đình anh C một thời gian, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, có được 01 con chung. Đến đầu năm 2022, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, sống không hạnh phúc và không sống chung với nhau từ tháng 1/2023. Nay chị xét thấy vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung tên Trần Đặng Thiên P, sinh ngày 21/3/2023, ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
Đối với bị đơn anh Trần Minh C, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo và nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh C không đến Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của chị N. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Đại diện VKSND thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là phù hợp quy định của pháp luật. Tại phiên toà nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Xét thấy vợ chồng Đặng Thị N, anh Trần Minh C mâu thuẫn trầm trọng, hiện nay không còn sống chung, mục đích của hôn nhân không đạt được đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị N, cho chị N được ly hôn anh C.
Về nuôi con chung: Giao con Trần Đặng Thiên P cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị N phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn nhận định.
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đặng Thị N có đơn yêu cầu ly hôn anh Trần Minh C, giải quyết về nuôi con khi ly hôn. Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Trần Minh C đăng ký thường trú tại xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn.
Chị Đặng Thị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Trần Minh C vắng mặt lần thứ hai, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án: Chị Đặng Thị N anh Trần Minh C có tìm hiểu nhau và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H ngày 01/12/2021, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống cùng gia đình anh C một thời gian, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có được 01 con chung. Đến đầu năm 2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, chị N cho rằng anh C thường xuyên chơi cờ bạc nên nợ nần nhiều người, chị khuyên can nhưng anh C không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng không sống chung từ tháng 1/2023 đến nay, không ai quan tâm, chăm sóc nhau. Do vợ chồng không sống chung, không còn tình cảm với nhau nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C.
Đối với bị đơn anh Trần Minh C mặt dù Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo đến Tòa án để tham gia các phiên hòa giải nhưng anh C không đến Tòa án. Các phiên tòa anh C đều vắng mặt, chứng tỏ anh C cũng không có thiện chí níu kéo tình cảm với chị N để hàn gắn hạnh phúc vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để bảo vệ quyền lợi cho anh C.
Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay chị N anh C không còn sống chung, không còn tình cảm nhau. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân là xây dựng một gia đình hòa thuận, hạnh phúc không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Đặng Thị N ly hôn anh Trần Minh C là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị N anh C có 01 con chung tên Trần Đặng Thiên P, sinh ngày 21/3/2023, cháu P hiện nay được chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, nay ly hôn chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần giữ nguyên việc nuôi con, giao cháu P cho chị N nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung: Hai bên không có tài sản chung.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 147; 271; 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 56; 69; 71; 81; 82; 83; 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;
Chị Đặng Thị N được ly hôn anh Trần Minh C.
- Về con chung: Giao con chung tên Trần Đặng Thiên P, sinh ngày 21/3/2023, cho chị Đặng Thị N nuôi dưỡng sau khi ly hôn. Ghi nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Chị N anh C không có tài sản chung.
- Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm chị Đặng Thị N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005852 ngày 01/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Chiến |
Bản án số 159/2024/HNGĐ-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 159/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐẶng Thị N ly hôn Trần Minh C
