Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 159/2025/HSST

Ngày: 25/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Vụ.

Bà Nguyễn Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 147/2025/HSST, ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 đối với:

Bị cáo Lê Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/01/1995, tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn S, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC và TTXH; Nghề nghiệp: Lao động tự do.; Trình độ học vấn: 0/12. Bố: Lê Văn T, sinh năm 1972; Mẹ: Lê Thị T1, sinh năm 1973; Bị cáo chưa có vợ, con ; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 19/3/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 44/2024/HSST.

Bị caó bắt tạm giam 30/12/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T – phân trại tạm giam khu vực thành phố T.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thanh V – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T ( Có mặt)

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lê Văn T - sinh năm 1972 ( bố đẻ) (vắng mặt)

1

Địa chỉ: Thôn S, xã Đ,thành phố T,tỉnh Thanh Hóa.

- Bị hại: Anh Đỗ Thanh D – sinh năm 1987 ( Có đơn xin xử vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N phường B, Thành phố T

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Đỗ Nhật Q – sinh năm 2000 ( vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N phường B, Thành phố T.

+ Anh Nguyễn Thành T2 – sinh năm 1994( vắng mặt)

Địa chỉ: Số A N phường B, Thành phố T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 08/03/2022, Lê Văn H đi bộ lang thang hướng từ ngã tư N - T về bến xe phía T thành phố T. Khi đi đến số nhà A N, phường B, thành phố T, H thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, BKS: 49P1- 8186 của anh Đỗ Thanh D, sinh năm 1987, HKTT: 03D Hoàng Hoa T3, P.10, TP Đ, tỉnh Lâm Đồng (tạm trú tại A N, phường B, thành phố T) đang dựng ở trước nhà và không rút chìa khóa; H quan sát thấy không có người trông coi nên này sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô này để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H lên xe, nổ máy đi được một đoạn thì chìa khóa xe bị rơi ra khỏi ổ khóa nên xe bị tắt máy, H dắt xe được khoảng 10-20m thì thấy một quán sửa xe (không nhớ địa chỉ) và bán cho một người đàn ông không quen biết lấy số tiền 100.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 19 giờ ngày 09/3/2022, H tiếp tục đi đến trước số nhà A N, phường B, thành phố T thì bị anh D nhận ra là người đã xuất hiện trong camera an ninh và trộm cắp chiếc xe của mình nên chạy ra giữ H lại và báo cáo sự việc đến Công an phường đến làm việc ( BL 59-69, 80-90, 147-155).

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐGTS, ngày 19/4/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự U Kết luận: 01 chiếc xe moto nhãn hiệu Honda Future Neo, mà đen, xám, bạc đã qua sử dụng có giá trị là 6.000.000 đồng (BL 167-168).

- Quá trình điều tra, thấy: Lê Văn H có biểu hiện tâm thần nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trưng cầu V1 giám định tâm thần đối với Lê Văn H. Tại Kết luận giám định pháp ý tâm thần số 375/KLGD, ngày 02/01/2025 của V1 kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định bị can Lê Văn H bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ kết hợp tật ứng về tác phong đáng kể đòi hỏi phải theo dõi hoặc điều trị kèm theo Động kinh toàn thể cơn lớn, theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F70.1 +G40.6. Tại thời điểm trên bị can hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi (BL 139-140).

2

Tại cáo trạng số 92/CT-VKSTP, ngày 17/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, q,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì không có việc làm và thu nhập. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về phần dân sự: Ông Lê Văn T, sinh năm 1972, trú tại thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa là bố đẻ của Lê Văn H đã tự nguyện bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho anh Đỗ Thanh D, anh D đã nhận đủ số tiền nên không yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho H.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Bị cáo phạm tội do bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi, bị cáo bị bệnh tâm thần từ nhỏ, mức độ nặng, gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đạih diện hợp pháp của bị cáo, bị hại, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

3

[2] Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, đại diện pháp của bị cáo, bị hại, người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai đầy đủ trong quá trình điều tra và không gây trở ngại cho việc xét xử. HĐXX căn cứ Điều 292 BLTTHS tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn H khai nhận: khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 08/3/2022, tại trước nhà anh Đỗ Thanh D, sinh năm 1987, ở A N, phường B, thành phố T, Lê Văn H đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future Neo, biển kiểm soát 49P1- 8186, trị giá 6.000.000 đồng của anh D đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

[4] Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu để lén lút trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo bị hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Đại diện hợp pháp của bị cáo đã tự nguyện bồi thường và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,q,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt tiền nhưng do bị cáo bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ kết hợp tật ứng về tác phong đáng kể đòi hỏi phải theo dõi hoặc điều trị kèm theo Động kinh toàn thể cơn lớn; bản thân bị cáo không có khả năng lao động và có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền.

4

[7] Về phần dân sự: Ông Lê Văn Thế L bố đẻ của bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 7.000.000 đồng cho anh Đỗ Thanh D, anh D đã nhận đủ số tiền trên, anh D không có đề nghị gì về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ : Khoản 1 Điều 173; Điểm b,q,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 20/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

2.Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

3.Xử phạt: Lê Văn H 09 ( chín ) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2024.

4.Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải nộp 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, Người đại diện hợp pháp cho bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP Thanh Hóa;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi Cục THADS TP Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Đại diện HP của bị cáo;
  • - Bị hại,
  • - Người bào chữa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hoá;
  • Phân trại tạm giam khu vực TP Thanh Hoá;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trịnh Thị Dung

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 159/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger