Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI,

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày 11 - 12 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đức Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Xuân Hưởng
  2. Ông Nguyễn Kim Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chang- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 163/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 162/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

VŨ THỊ N; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1978 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện nay: Tổ B, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vũ Xuân H (đã chết) và bà Đỗ Thị T, sinh năm 1945. Bị cáo có chồng là Phùng Văn L, sinh năm 1968 và 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo là Đảng viên Đ; Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Trần Thị H1, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ C, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15/8/2024, Vũ Thị N đến Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Lào Cai thuộc tổ E, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai để làm các thủ tục hành chính. Trong quá trình ngồi chờ để làm thủ tục hành chính, đến 15 giờ 30 phút Vũ Thị N nhìn thấy trên bàn gần vị trí Vũ Thị N đang ngồi có 01 (một) chiếc ví giả da màu nâu, mặt ngoài của ví có in ký tự “LV”. Vũ Thị N quan sát xung quanh thấy không có ai trông coi, quản lý tài sản nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc ví trên. Vũ Thị N dùng tay phải gạt chiếc ví rơi xuống đất, rồi cúi người xuống dùng tay phải nhặt chiếc ví lên và cho vào túi nilon đựng các loại giấy tờ của Vũ Thị N đang cầm trên tay trái, sau đó tiếp tục thực hiện các thủ tục hành chính. Sau khi làm xong thủ tục hành chính, Vũ Thị N đi về nhà và kiểm tra chiếc ví thì thấy trong ví có các loại giấy tờ tuỳ thân gồm: 01 (một) căn cước công dân, 01 (một) giấy phép lái xe mô tô, 01 (một) giấy phép lái xe ô tô đều mang tên Trần Thị H1 và tổng số tiền 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Vũ Thị N đã tiêu xài cá nhân hết 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) và cất số tiền còn lại đi.

Chị Trần Thị H1 sau khi làm xong các thủ tục đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì về nhà, đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì phát hiện bị mất chiếc ví bên trong có giấy tờ và một số tiền mặt nên đã quay lại đề nghị trích xuất dữ liệu hình ảnh để tìm lại tài sản. Đến 21 giờ cùng ngày khi Đội cảnh sát 113 - Phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tỉnh Lào Cai triệu tập làm việc, Vũ Thị N đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của bản thân và giao nộp: 01 (một) ví nữ giả da màu nâu mặt ngoài của ví có in ký tự “LV”; 01 (một) căn cước công dân; 01 (một) giấy phép lái xe mô tô; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô đều mang tên Trần Thị H1 cùng số tiền còn lại là 15.000.000 đồng đồng (Mười lăm triệu đồng). Đội Cảnh sát 113 - Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh L đã tiến hành lập hồ sơ ban đầu và niêm phong vật chứng, chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L để giải quyết theo quy định.

Ngày 23/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 3053/YC-ĐTTH đề nghị Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố L tiến hành định giá đối với 01 (một) ví giả da màu nâu, mặt ngoài của ví có in ký tự “LV” (đã qua sử dụng) có trị giá bao nhiêu? Ngày 05/9/2024, Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố L ra Công văn số 27/CV-HĐĐG về việc từ chối yêu cầu định giá tài sản đối với 01 (một) ví giả da màu nâu, mặt ngoài của ví có in ký tự “LV” (đã qua sử dụng) với lý do: Tài sản yêu cầu định giá không có bán trên thị trường nên không khảo sát giá được để tiến hành định giá.

Cáo trạng số 159/CT-VKS ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Vũ Thị N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Vũ Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không tranh luận về tội danh cũng như hình phạt mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị hại chị Trần Thị H1 trong quá trình tố tụng cũng như tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 02/12/2024 đã trình bày: Chị đã nhận lại được toàn bộ tài sản và bị cáo cũng đã bồi thường cho chị số tiền là 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng), đến nay chị không có ý kiến, đề nghị gì về trách nhiệm dân sự; về trách nhiệm hình sự chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị hại vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Thị N tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/8/2024 tại Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Lào Cai thuộc tổ E, phường N, thành phố L, bị cáo Vũ Thị N đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) ví giả da màu nâu bên trong có tổng số tiền 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) và một số giấy tờ tuỳ thân của chị Trần Thị H1. Hành vi nêu trên của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1- Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại với tổng số tiền là 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, năm 2014 bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng “Bằng khen” đã có nhiều thành tích trong phong trào thi đua “Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2012-2014”; Năm 2019 được Bộ trưởng Bộ G tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục; Năm 2021 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng huy hiệu “Vì sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Lào Cai”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, h, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nơi làm việc và nơi cư trú rõ ràng. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Căn cứ quy định tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo Vũ Thị N đủ điều kiện để được hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo đối với bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Do vậy ý kiến của kiểm sát viên tại phiên toà đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là có cơ sở, cần chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) cho cơ quan điều tra. Ngày 14/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra Quyết định số 1820/QĐ-ĐTTH trả tài sản cho chủ sở hữu là chị Trần Thị H1 gồm: 01 (một) ví giả da màu nâu, mặt ngoài của ví có in ký tự “LV” (đã qua sử dụng); 01 (một) căn cước công dân; 01 (một) giấy phép lái xe ô tô; 01 (một) giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Trần Thị H1 và số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Ngoài ra bị cáo đã khắc phục trả lại số tiền 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) đã tiêu xài và bồi thường thêm cho chị Trần Thị H1 số tiền 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi nhận được số tiền trên, chị Trần Thị H1 không yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điểm b, h, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vũ Thị N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị N 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Vũ Thị N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án buộc bị cáo Vũ Thị N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh
  • - VKSNDTP;
  • - Đội CSHTTP
  • - Bộ phận QLHS
  • - Bị cáo; Bị hại
  • - Chi cục THADSTP;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Đức Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị N phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger