|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 159/2024/HS-ST
Ngày: 11-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Phạm Thuận
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Trúc Lâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 155/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Như T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 21 tháng 01 năm 1993 tại Quảng Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Như S, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024. Có mặt.
- Bị hại: Ông Trần Nhật T1, sinh năm 2001. Nơi ĐKHKTT: 408/443/01 H, phường B, quận H, Tp Đà Nẵng. Hiện trú tại: G T, tổ C, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Hồ Văn T2, sinh năm 1970. Trú tại: Tổ C, phường X, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
2/ Ông Trần A Đ, sinh năm 1969. Trú tại: K H, quận H, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Như T và anh Trần Nhật T1 là bạn bè, cả hai cùng thuê nhà tại số G Trân C, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng để ở và buôn bán. T thường xuyên sử dụng điện thoại di động Iphone 14 Promax màu vàng của anh T1 để kiểm tra giao dịch khách hàng chuyển khoản nên biết mật khẩu.
Khoảng 3 giờ 20 phút ngày 20/02/2024, T thấy anh T1 đang ngủ, bên cạnh có để 01 điện thoại di động Iphone 14 Promax nên này sinh ý định trộm căp đề cầm cố lấy tiền trả nợ. Trước đó khi kiểm tra T biết số dư trong tài khoản số 19038141450016 mang tên "Tran Nhat Toan" mở tại Ngân hàng TMCP K (T6) của anh T1 còn khoảng 2.900.000 đồng. Sau khi lây trộm điện thoại, T mở máy và đăng nhập vào ứng dụng internet banking, chuyển khoản 2 lần tổng 2.900.000đồng. Lần 1 vào lúc 3 giờ 25 phút: 2.500.000 đồng; lần 2 vào lúc 3 giờ 31 phút: 400.000đồng từ tài khoản của anh T1 sang tài khoản số 0888787003 mang tên "Nguyen Nhu T3" mở tại Ngân hàng TMCP C (V) để rút tiền trả nợ. Đến khoảng 5 giờ 30 phút cùng ngày, T đi lấy bánh về để tại quán và xin anh T1 nghỉ một ngày để về quê. Do vẫn không đủ tiền để trả nợ nên khoảng 7 giờ 20 phút cùng ngày, T điều khiến xe mô tô Sirius biển kiểm soát 43C1-763.05 đem điện thoại Iphone 14 Promax đến tiệm C1 ở số D T, thành phố Đà Nẵng do anh Hồ Văn T2 làm chủ cầm cố được 15.000.000đồng, sau đó T về quê ở huyện D, tỉnh Quảng Nam. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T đi ra lại Đà Nẵng, khi đến thị trấn N, tỉnh Quảng Nam thì ghé vào trụ ATM rút số tiền 2.900.000 đồng. Lúc này, anh T1 gọi hỏi T có lấy điện thoại không thì T nói dối đang đem điện thoại ra cho anh T1. Do trước đó T nợ của một người tên Đ1 (không rõ nhân thân, lai lịch) số tiền 28.000.000 đồng nên T sử dụng số tiền 2.900.000 đồng, 15.000.000đồng tiền cầm cố điện thoại và 13.000.000 đồng mẹ T cho để trả nợ hết cho Đ1. Lúc này, Trường quay về nhà ở huyện D thi gặp anh T1, T nói đã cầm cố điện thoại và xin thời gian để chuộc lại nhưng anh T1 không đồng ý. Cùng ngày, anh T1 đến Công an phường T Đông trình báo.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 26/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu vàng 128GB có giá trị 19.500.000 đồng.
Như vậy, xác định, giá trị tài sản T trộm cắp có giá trị 19.500.000 đồng; giá trị tài sản mà T đã "Sử dụng mạng máy tính, mạng viên thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" của T1 trong đêm 20/02/2024 2 lần là 2.900.000 (Hai triệu chín trăm ngàn đồng).
Tổng giá trị tài sản Nguyễn Như T đã chiếm đoạt của Trần Nhật T1 trong vụ án này tổng cộng là 22.400.000 đồng.
* Vật chứng tạm giữ:
- - 01 hợp đồng cầm đồ tại cửa hàng T7, được lưu tại hồ sơ vụ án.
2
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu vàng 128GB.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen-trắng, biển kiểm soát 43C1-763.05. Qua xác minh, xe do ông Trần A Đ là ba ruột của anh Trần Nhật T1 đứng tên chủ sở hữu. Khoảng giữa năm 2023, ông Đ cho anh T1 chiếc xe trên để làm phương tiện đi lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Anh T1 giao xe cho T quản lý để phục vụ công việc buôn bán và đi về quê.
Ngày 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại điện thoại và xe mô tô nêu trên cho anh Trần Nhật T1.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Anh Trần Nhật T1 đã nhận lại điện thoại và xe mô tô, không có yêu cầu bồi thường gì, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
- - Anh Hồ Văn T2 đã nhận đủ 15.000.000 đồng gia đình bị cáo T khắc phục hậu quả, không yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, Nguyễn Như T khi nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Nguyên nhân, điều kiện phạm tội: Nguyễn Như T thực hiện hành vi trộm cắp điện thoại và số tiền 2.900.000 đồng của anh T1 để trả nợ.
Tại bản cáo trạng số 137/CT- VKS ngày 31 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Như T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự, áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- - Điểm b Khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Như T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 Hợp đồng cầm cố ngày 20/02/2024 của cửa hàng T7.
3
Bị cáo Nguyễn Như T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Như T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 20 tháng 02 năm 2024, tại nhà số G T, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng, Nguyễn Như T đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu vàng 128GB trị giá 19.500.000 đồng của anh Trần Nhật T1. Cùng ngày, Nguyễn Như T cầm cố điện thoại và lấy tiền trả nợ cá nhân.
Khoảng 03 giờ 25 phút và 03 giờ 31 phút cùng ngày 20 tháng 02 năm 2024, Nguyễn Như T sử dụng điện thoại di động của anh T1 để 02 lần truy cập bất hợp pháp vào tài khoản Ngân hàng của anh T1 bằng ứng dụng Internet Banking để 02 lần chuyển tiền với số tiền lần lượt là 2.500.000 đồng và 400.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của Nguyễn Như T, chiếm đoạt số tiền 2.900.000 đồng của anh T1. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên.
Do đó hành vi của Nguyễn Như T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 137/CT- VKS ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự an toàn công cộng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, gây ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng và sự an toàn của hệ thống tín dụng. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại để lén lút trộm cắp tài
4
sản là điện thoại di động của bị hại, sau đó 02 lần truy cập bất hợp pháp vào điện thoại để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Vậy, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã tác động gia đình khắc phục hậu quả với số tiền 15.000.000 đồng cho ông Hồ Văn T2 và bồi thường số tiền 2.900.000 đồng cho bị hại anh Trần Văn T4; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại anh Trần Văn T4 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Đối với hành vi Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Nhật T1 đã nhận lại điện thoại di động và số tiền 2.900.000 đồng, không có yêu cầu bồi thường gì, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho T. Anh Hồ Văn T2 đã nhận đủ 15.000.000 đồng gia đình bị cáo T khắc phục hậu quả, không yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 Hợp đồng cầm cố ngày 20/02/2024 của cửa hàng T7 cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án.
[7] Đối với anh Hồ Văn T2 có hành vi nhận cầm cố điện thoại từ Nguyễn Như T5, anh T2 không biết điện thoại do T trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xem xét xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
[8] Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như T 09 (chín) tháng tù.
5
2. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Như T chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/02/2024.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 Hợp đồng cầm cố ngày 20/02/2024 của Cửa hàng T7.
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Như T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Hưng |
6
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản và sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
