TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --- |
Bản án số: 159/2024/HS-ST Ngày 06-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lăng Thị Lê Thùy;
Bà Hoàng Thị Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lê Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2024/TLST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 02 tháng 02 năm 1991 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 20/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số I, đường N, khối F, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nhân viên tạp vụ Ngân hàng TMCP Q (M) - Chi nhánh tỉnh L (đã nghỉ việc); trình độ học vấn: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn G (đã chết) và bà Lý Thị D; chồng Nguyễn Thế H (chung sống như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn), con: 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lý Thị D, sinh năm 1960; địa chỉ: Số I đường N, khối F, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
Người chứng kiến: Ông Trình Văn H1, sinh năm 1992; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại khu vực trước nhà số C, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Công an thành phố L phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị Thu T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi treo cùng chìa khóa xe máy điện 01 gói giấy màu trắng, bên trong có một túi nilon màu trắng (kích thước 03cm x 02cm) chứa 05 viên nén màu hồng và chất tinh thể màu trắng, Nguyễn Thị Thu T khai nhận là ma túy tổng hợp dạng “đá”, “ngựa” mang đi bán để kiếm lời. Ngoài ra còn tạm giữ: 01 túi giả da có hoa văn (kích thước 07cm x 3,5cm x 4,5cm); 01 xe mô tô điện nhãn hiệu GO-PATH SI, màu đen, không có biển kiểm soát, cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, lắp sim thuê bao số 0964.877.628, cũ đã qua sử dụng.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Thu T tại địa chỉ nêu trên phát hiện, thu giữ trong cây lăn hút bụi quần áo để trên kệ gỗ cạnh đầu giường ngủ của Nguyễn Thị Thu T: 01 túi nilon màu trắng (kích thước 03cm x 03cm) chứa 06 viên nén màu hồng; 01 túi nilon màu trắng (kích thước 5,5cm x 05cm) chứa chất tinh thể màu trắng; 01 ống hút nhựa màu đen dài 06cm.
Tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong cơ thể, xác định Nguyễn Thị Thu T dương tính với chất ma túy AMP, MET.
Kết luận giám định số 665/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L xác định:
- Trong phong bì ghi chữ “Phong bì 1 (Quả tang)”:
- - 05 (năm) viên nén màu hồng đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,558 gam (đã trừ bì).
- - Chất tinh thể màu trắng là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,281 gam (đã trừ bì).
- Trong phong bì ghi chữ “Phong bì 2 (Khám xét)”:
- - 06 (sáu) viên nén màu hồng đều là chất ma túy Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,656 gam (đã trừ bì).
- - Chất tinh thể màu trắng là chất ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,434 gam (đã trừ bì).
Tổng cộng: 1,929 gam chất ma túy Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Thu T khai nhận: Bản thân sử dụng chất ma túy “đá”, “ngựa” từ năm 2023 đến nay. Khoảng hơn 07 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, Nguyễn Thị Thu T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, lắp sim số 0964.877.628 nhắn tin cho người đàn ông tên “H” (không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0987.558.xxx) thỏa thuận đặt mua 01gam ma túy “đá” và 01 lượng nhỏ ma túy “ngựa” với giá 1.600.000 đồng và hẹn giao nhận ma túy tại khu vực cây xăng D1, đường T, phường H, thành phố L. Đến khoảng 13 giờ 30 phút, Nguyễn Thị Thu T một mình điều khiển xe mô tô điện nhãn hiệu GO-PATH SI, màu đen, (không có biển kiểm soát) đi đến địa điểm trên thì thấy một người đàn ông đeo khẩu trang đang đứng cạnh đường, Nguyễn Thị Thu T đến gần hỏi “có phải H không?” thì người này trả lời “phải”, Nguyễn Thị Thu T đưa cho “H” 1.600.000 đồng thì nhận được 01 gói giấy màu trắng bên trong có 01 túi nilon chứa 11 viên ma túy “ngựa” và 01 túi nilon chứa ma túy “đá” rồi đem về nhà cất giấu vào trong cây lăn hút bụi quần áo, để trên kệ cạnh đầu giường ngủ để bán kiếm lời.
Khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Thu T nhận được tin nhắn và cuộc gọi của một người sử dụng tài khoản tên “Trần Bảo N” qua ứng dụng Mesenger đã quen trước đó qua mạng xã hội Facebook, thỏa thuận đặt mua 05 viên ma túy “ngựa” cùng ma túy “đá” với giá 500.000 đồng, hẹn khi đến lấy sẽ gọi Nguyễn Thị Thu T. Nguyễn Thị Thu T liền lấy 05 viên ma túy ngựa cùng một lượng nhỏ ma túy đá trong túi ma túy “đá”, “ngựa” đã mua trước đó cho vào 01 túi nilon màu trắng, dùng giấy vệ sinh bọc bên ngoài rồi để trong túi giả da có hoa văn, treo cùng chìa khóa xe máy điện, số ma túy “đá”, “ngựa” còn lại Nguyễn Thị Thu T cất giấu vào chỗ cũ. Sau đó, Nguyễn Thị Thu T điều khiển xe mô tô điện mang theo túi ma túy “đá”, “ngựa" đang trên đường đi giao cho N thì bị bắt giữ như đã nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 150/CT-VKS, ngày 07/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu T khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lý Thị D trình bày: Chiếc xe mô tô điện nhãn hiệu GO-PATH SI, màu đen, (không có biển kiểm soát) là của bà. Tháng 3/2024 bà mua chiếc xe trên tại cửa hàng mua bán xe máy điện của anh Hoàng Văn B, địa chỉ tại số C, đường B, phường H, thành phố L với giá 16.800.000 đồng để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 07/6/2024, Nguyễn Thị Thu T sử dụng chiếc xe mô tô trên thực hiện hành vi phạm tội thì bà không biết. Ngày 11/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà, nay bà không có ý kiến gì.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn phát biểu luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và các vật dụng bị cáo sử dụng vào việc cất giấu ma túy (02 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định 01 túi giả da có hoa văn kích thước 07cm x 3,5cm x 4,5cm; 01 ống hút nhựa màu đen dài 06cm); tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, số IMEI: 356938146979449, lắp kèm sim số thuê bao 0964.877.628, cũ đã qua sử dụng. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ, đầy đủ. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật. Người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với bản Kết luận giám định chất ma túy và lời khai người chứng kiến cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ. Nên có cơ sở để xác định, vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại khu vực trước nhà số C, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Thị Thu T đang thực hiện hành vi tàng trữ 0,839 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán thì bị bắt giữ; qua khám xét tại chỗ ở của bị cáo phát hiện thu giữ 1,090 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp tiêu thụ, tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 1,929 gam chất ma túy Methamphetamine. Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, nên bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội, ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy. Khi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do hoàn cảnh khó khăn, hám lợi bất chính mà vẫn cố ý phạm tội.
[4] Để quyết định mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo như sau:
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có 02 con còn nhỏ, trong đó có con Nguyễn Trung H2 bị khuyết tật có Giấy xác nhận khuyết tật thần kinh, tinh thần, trí tuệ; hiện nay 02 con của bị cáo đang nhờ mẹ đẻ là bà Lý Thị D sinh năm 1960 chăm sóc, bà Lý Thị D bị tai biến có Giấy xác nhận khuyết tật vận động; chồng bị cáo không có đăng ký kết hôn hiện không rõ nơi cư trú; xác định bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án tiền sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, bị cáo không tu dưỡng đạo đức lối sống mà sử dụng trái phép chất ma túy, hám lợi nên cố ý mua bán trái phép chất ma túy, nên xác định nhân thân không tốt.
[8] Từ nhận định trên, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo trước khi phạm tội làm tạp vụ, nay đã bị cho nghỉ việc, không còn thu nhập khác, nuôi 02 con nhỏ, là lao động duy nhất. Theo kết quả xác minh ngày 31/7/2024 thì bị cáo không có tài sản riêng có giá trị để đảm bảo để đảm bảo thi hành án, nên không cần phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[10] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là chất cấm tàng trữ, lưu hành và các vật dụng bị cáo sử dụng vào việc cất giấu ma túy bao gồm: 02 phong bì niêm phong bên trong đựng mẫu vật là chất ma túy sau giám định 01 túi giả da có hoa văn kích thước 07cm x 3,5cm x 4,5cm và 01 ống hút nhựa màu đen dài 06cm không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, số IMEI: 356938146979449, lắp kèm sim số thuê bao 0964.877.628, máy cũ đã qua sử dụng, bị cáo sử dụng liên lạc trao đổi mua bán trái phép chất ma túy, là phương tiện phạm tội, nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước.
[11] Đối với chiếc xe mô tô điện nhãn hiệu GO-PATH SI, màu đen, (không có biển kiểm soát), xác định là xe của bà Lý Thị D (mẹ đẻ của bị cáo Nguyễn Thị Thu T). Tháng 3/2024 bà Lý Thị D mua chiếc xe trên tại cửa hàng mua bán xe máy điện của anh Hoàng Văn B để sử dụng làm phương tiện đi lại. Ngày 07/6/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thu T sử dụng chiếc xe mô tô trên thực hiện hành vi phạm tội thì bà Lý Thị D không biết. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà Lý Thị D, việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp.
[12] Đối với người đàn ông tên “H” sử dụng số điện thoại di động 0987.558.xxx là người đã bán ma túy cho Nguyễn Thị Thu T vào 07/6/2024. Kết quả thu giữ điện tín xác định người đứng tên số thuê bao trên là Dương Danh H3 (sinh năm 1985, trú tại phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội). Kết quả tài liệu điều tra theo ủy thác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, thành phố Hà Nội thể hiện Dương Danh H3 có đăng ký thường trú tại địa phương nhưng không sinh sống tại địa phương mà đang ở tại địa chỉ số B, đường N, phường T, thành phố L. Kết quả xác minh tại địa chỉ số B, đường N, phường T xác định không có ai tên Dương Danh H3 có lai lịch như trên tạm trú và sinh sống. Tiến hành cho Nguyễn Thị Thu T nhận dạng qua ảnh nhưng không xác định được. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được để xử lý trong vụ án.
[13] Đối với người tên N sử dụng tài khoản “Trần Bảo N” trên ứng dụng Mesenger liên lạc mua ma túy với Nguyễn Thị Thu T vào ngày 07/6/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không làm rõ được để xử lý trong vụ án.
[14] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân thành phố L về tội danh, hình phạt và các nội dung khác là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
[15] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
[16] Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy:
- - 02 (hai) phong bì niêm phong đựng mẫu vật chất ma túy sau giám định;
- - 01 (một) túi giả da có hoa văn kích thước 07cm x 3,5cm x 4,5cm;
- - 01 (một) ống hút nhựa màu đen dài 06cm.
- Tịch thu, hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen, số IMEI: 356938146979449, lắp kèm sim số thuê bao 0964.877.628, máy cũ đã qua sử dụng.
(Vật chứng nêu trên được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn).
- Tịch thu, tiêu hủy:
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Ninh |
Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 159/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, tại khu vực trước nhà số C, đường N, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, Nguyễn Thị Thu T đang thực hiện hành vi tàng trữ 0,839 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán thì bị bắt giữ; qua khám xét tại chỗ ở của bị cáo phát hiện thu giữ 1,090 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp tiêu thụ, tổng khối lượng ma túy bị thu giữ là 1,929 gam chất ma túy Methamphetamine
