Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS-ST

Ngày: 04-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thành;
  2. Bà Đỗ Thị A.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Văn Tuấn V (tên gọi khác: Vân T, Văn Tấn V1, Nguyễn Tuấn V2, Nguyễn Văn T), sinh ngày: 26/6/1976 tại Tp .; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12, con ông: Văn C (chết) và bà: Nguyễn Thị M (chết); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 24/8/1992 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 254/HSST ngày 24/8/1992.

- Ngày 13/9/1997 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 172/HSST ngày 13/9/1997, chấp hành án đến ngày 12/9/1999 hết án tha.

- Ngày 01/8/2000 bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo Bản án số 117/HSST ngày 01/8/2000, chấp hành án đến ngày 07/01/2001 hết án tha.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/4/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Chị Trần Thị Vân A, sinh năm 1991 (vắng mặt). Hộ khẩu thường trú: Số E ấp T, xã T, huyện H, Tp .
  2. Chị Trần Thị Tuyết M1, sinh năm 1988 (vắng mặt). Hộ khẩu thường trú: Số G T, phường T, quận T, Tp .
  3. Chị Mai Thị Đ, sinh năm 1992 (vắng mặt). Hộ khẩu thường trú: Tổ A, ấp T, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 ngày 22/4/2024, Văn T V2 đi bộ vào bệnh viện N tìm cơ hội trộm cắp tài sản. V2 đi vào Khu điều trị nội trú tại tòa nhà H của bệnh viện, phát hiện từng lầu của tòa nhà H đều có chỗ sạc pin điện thoại công cộng cho thân nhân người bệnh. V2 nảy sinh ý định sẽ chiếm đoạt điện thoại di động đang sạc pin. Khoảng 13 giờ 16 phút cùng ngày, V2 đi bộ đến khoa Tiêu hóa của bệnh viện tại lầu 1, thấy trên kệ sạc pin công cộng tại trước phòng 02.05 có chiếc điện thoại di động hiệu Oppo Reno6 Z 5G của chị Trần Thị Vân A đang sạc pin, không có người trông coi. V2 đi lại gần lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần của mình. Sau đó với thủ đoạn tương tự, vào lúc 13 giờ 32 phút, V2 chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Oppo F9 của chị Trần Thị Tuyết M1 tại kệ sạc điện thoại di động trước cửa phòng 04.02 của K - lầu 3; lúc 13 giờ 35, V2 chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu đen của chị Mai Thị Đ tại kệ sạc điện thoại trước cửa phòng số 05.03 của khoa Nhiễm Thần kinh - lầu 4. Sau đó, V2 đi bộ ra cổng số 3 của bệnh viện T1 thì bị anh Nguyễn Hoàng V3, là bảo vệ bệnh viện, phát hiện trình báo Công an P, Quận A. Công an P, Quận A lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P giải quyết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P trưng cầu định giá tài sản 03 chiếc điện thoại di động bị chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số 784/KL-HĐĐGTS ngày 03/05/2024 của Hội đồng Định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A1 xác định tại thời điểm bị chiếm đoạt: “01 (một) chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen, hàng chính hãng, dung lượng 128 GB trị giá 2.500.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động Oppo F9 màu đen, hàng chính hãng, dung lượng 64 GB trị giá 2.000.000 đồng; 01 (một) chiếc điện thoại di động Oppo reno6 Z 5G màu đen, hàng chính hãng, dung lượng 128GB trị giá 2.200.000 đồng”.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P trưng cầu giám định tỷ lệ câm điếc đối với bà Trần Thị Vân A. Kết luận giám định tình trạng sức khỏe số 26/KLGĐSK-TTPY.2024 ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận: Điếc tiếp nhận hai tai: Tổn thương tai phải 99,4%, tổn thương tai trái 99,9%; Không thực hiện được thính lực lực lời; Tỷ lệ tổn thương cơ thể 71%.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an P ra quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt tạm giam đối với Văn Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an P, V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • 01 USB chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của bị cáo V (lưu theo hồ sơ vụ án).
  • 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen; 01 quần lửng màu đen - là trang phục của bị can V mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen là tài sản của bị hại Mai Thị Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P đã trả lại cho chị Đ.
  • 01 chiếc điện thoại di động Oppo F9, là tài sản của bị hại Trần Thị Tuyết M1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P đã trả lại cho chị M1.
  • 01 chiếc điện thoại di động Oppo Reno6 Z 5G là tài sản của bị hại Trần Thị Vân A. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an P đã trả lại cho chị A.

Về dân sự: Chị Mai Thị Đ, chị Trần Thị Tuyết M1, chị Trần Thị Vân A không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 130/CT-VKSQ10 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Văn Tuấn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (phạm tội 02 lần trở lên, phạm tội đối với người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt) của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, k khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Văn Tuấn V mức án từ 01 (một) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đến 10.000.000 đồng sung quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] ]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Văn Tuấn V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 30 ngày 22/4/2024, Văn Tuấn V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy A13 màu đen trị giá 2.500.000 đồng của chị Mai Thị Đ; 01 (một) chiếc điện thoại di động Oppo F9 màu đen trị giá 2.000.000 đồng của chị Trần Thị Tuyết M1; 01 (một) chiếc điện thoại di động Oppo reno6 Z 5G màu đen, trị giá 2.200.000 đồng của chị Trần Thị Vân A. Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình nhưng vì tham lam muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Mặt khác bị cáo có quá trình nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không thay đổi. Do đó, bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người có ý định thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội với người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng quy định tại điểm g, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017), phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nộp ngân sách Nhà nước.

[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

- Về xử lý vật chứng:

  • 01 USB chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của bị cáo V (lưu theo hồ sơ vụ án).
  • 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen; 01 quần lửng màu đen - là trang phục của bị cáo V mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị nên tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Mai Thị Đ, chị Trần Thị Tuyết M1, chị Trần Thị Vân A không yêu cầu bị cáo bồi thường. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, k khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

    Xử phạt: Văn Tuấn V 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024.

    Phạt bổ sung bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

    - Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

    Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của bị cáo V.

    Tiêu hủy: 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen; 01 quần lửng màu đen.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024)

    - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

    Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (2)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (
  • 5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 04/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Văn Tuấn V phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger