|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 159/2024/HSST Ngày: 19/11/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga
Bà Nguyễn Thị Lan
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thái Bình - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức M, tên gọi khác: không, sinh ngày 07/07/1973 tại tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: Tổ F, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy T (đã chết) và bà Vũ Thị D, sinh năm 1941; Bị cáo chưa có vợ con; Gia đình bị cáo có 04 chị em. Bị cáo là con thứ 3 trong gia đình;
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Năm 1992 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, xử phạt 18 tháng tù tại Bản án 47/HS/ST ngày 25/9/1992. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/9/1992. Cơ quan điều tra không xác minh được việc chấp hành phần trách nhiệm dân sự và án phí của bản án do không có dữ liệu lưu trữ.
- Năm 1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, xử phạt 15 năm tù tại Bản án 06/HS/ST ngày 17/01/1998. Bị cáo đã chấp hành xong bản án.
- Năm 2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, xử phạt 36 tháng tù tại Bản án 04/2011/HSST ngày 25/01/2011. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/3/2013 và đã chấp hành xong toàn bộ các quyết định của bản án..
Bị cáo Nguyễn Đức M bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024 tại nhà tạm giữ Công an thành phố H. Hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh H.
Người chứng kiến: Bà Trần Thị N, sinh năm 1971 (vắng mặt không có lý do) Trú tại: Tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức M là người nghiện chất ma túy nên thường tìm cách mua ma túy để sử dụng cho bản thân. M thuê một căn hộ tại số B, cầu T, khu tập thể Chuyên gia thuộc tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình để ở một mình. Ngày 07/8/2024 M đi bộ từ nhà ở Tổ I, phường H đến khu vực đầu cầu H thuộc phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy. Tại đây M gặp một người đàn ông dáng người gầy, khoảng 40 tuổi không rõ lai lịch, địa chỉ để hỏi mua ma túy. Người này đồng ý bán cho M 01 gói nilon màu xanh đựng ma túy với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy nghìn đồng). Sau khi nhận được ma túy M cầm ma túy mang về cất giấu trong phòng ngủ tại căn hộ nêu trên để sử dụng dần. Ngày 08/8/2024 khi M vừa sử dụng ma túy xong thì có tổ công tác Công an phường H làm nhiệm vụ đến kiểm tra tại nơi ở của M, quá trình kiểm tra đã phát hiện dưới gầm giường phòng ngủ M đang ở có gói nilon nghi là ma túy. Lúc này, Nguyễn Đức M tự giác giao nộp 01 gói nilon bên trong có chất bột dạng cục màu trắng và các mảnh viên nén màu hồng và khai nhận đó là chất ma túy mua được trước đó để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và đưa Nguyễn Đức M về trụ sở công an phường H để lập biên bản theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 401/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 13/8/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:
“Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu A1 trong phong bì niêm phong một mặt ghi: PHONG BÌ NIÊM PHONG VẬT CHỨNG, họ và tên Nguyễn Đức M, sinh năm 1973, có HKTT tổ F, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Bắt ngày bắt 08/8/2024, tại: Tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 2,64 g (Hai phẩy sáu mươi tư gam), là ma túy, loại Heroine.
Các mảnh viên nén màu hồng ký hiệu A2 trong phong bì niêm phong một mặt ghi: PHONG BÌ NIÊM PHONG VẬT CHỨNG, họ và tên Nguyễn Đức M, sinh năm 1973, có HKTT tổ F, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở hiện nay: Tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Bắt ngày bắt 08/8/2024, tại: Tổ I, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 0,22 g (Không phẩy hai mươi hai gam), là ma túy, loại Methamphetamine.
Heroine nằm trong danh mục IA, Thuộc số thứ tự 09 - Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, Thuộc số thứ tự 247 - Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại kết luận điều tra số 143 ngày 29/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã kết luận: “Hành vi tàng trữ 2,64g (Hai phảy sáu mươi tư gam) ma túy loại Heroine (H) và 0,22g (Không phẩy ha mươi hai gam) ma túy loại Methamphetamine; tổng khối lượng 2,86g (Hai phảy tám mươi sáu gam) ma túy của Nguyễn Đức M đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 bộ luật hình sự năm 2015 của N1”
Cáo trạng số 151/CT-VKSTP ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Nguyễn Đức M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức M phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt mức án từ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định.Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi là sai. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, các nội dung đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Về hành vi bị cáo đã thực hiện: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu được; kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ đã thu giữ do đó có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Đức M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện chất ma túy, có nhân thân xấu, ngày 08/8/2024, tại nơi ở của M cầu T khu tập thể C (thuộc tổ I, phường H, TP H) đã phát hiện M có hành vi tàng trữ 2,64g (Hai phẩy sáu mươi tư gam) ma túy loại Heroine và 0,22g (Không phẩy hai mươi hai gam) ma túy loại Methamphetamine. Tổng khối lượng 2,86g (Hai phẩy tám mươi sáu gam) ma túy của Nguyễn Đức M đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 bộ luật hình sự 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và là nguyên nhân gây ra tội phạm khác. Nguyễn Đức M là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức đầy đủ hành vi, tự ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc và tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tại Bản án số 47/HS/ST ngày 25/9/1992 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xét xử về bị cáo M về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, xử phạt 18 tháng tù. Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/9/1992 và cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và lập biên bản không xác minh được việc chấp hành phần trách nhiệm dân sự và án phí của bản án do cơ quan liên quan không có dữ liệu lưu trữ. Tại phiên tòa bị cáo khai đã chấp hành toàn bộ bản án. Bên cạnh đó, trên cơ sở xem xét bản án ban hành thời gian gần nhất là bản án số 04/2011/HSST ngày 25/01/2011 (đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành xong) không còn xác định tiền án đối với hành vi phạm tội tại bản án năm 1992. Áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử không xem xét đây là tiền án đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù đã được xóa án tích nhưng lại phạm tội tương tự cho thấy ý thức của bị cáo chưa tốt hơn, cần nghiêm khắc hơn đối với bị cáo.
[4] Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ: Nguyễn Đức M, sinh năm: 1973 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 08/8/2024. Tại: Phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán niêm phong còn nguyên vẹn có dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh H và chữ lý của các thành phần tham gia niêm phong, là chất bị cáo tàng trữ trái phép, đồng thời Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về vấn đề khác trong vụ án: Đối với người đàn ông lạ mà bị cáo khai nhận đã bán ma túy cho Nguyễn Đức M, do bị cáo khai không biết đầy đủ tên tuổi, đặc điểm nhận dạng về người đàn ông đó, quá trình điều tra chưa đủ cơ sở để kết luận, nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử không đề cập xem xét giải quyết trong vụ án này.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự;
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức M phạm Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức M 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong 01 (một) phong bì niêm phong vật chứng, một mặt có ghi: “Mẫu vật còn lại sau khi giám định vụ: Nguyễn Đức M, sinh năm: 1973 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 08/8/2024. Tại: Phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình”. Mép dán niêm phong còn nguyên vẹn, có dấu tròn đỏ của Phòng K – Công an tỉnh H và chữ lý của các thành phần tham gia niêm phong.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng số 15/BB/2025 ngày 13/11/2024.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97 năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đức M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đà Giang |
6
Bản án số 159/2024/HSST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 159/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 36 tháng tù
