Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 159/2024/HS - ST

Ngày: 08/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Trần Thị Hằng

+ Bà Ngô Thị Luân

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Minh T, sinh năm: 2003; tại: Bến Tre; Nơi ĐKNKTT: số F, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Đ, ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 6/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Phạm Thị N; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo có mặt tại phiên tòa;
  2. Nông Trọng H, sinh năm: 2005, tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT: tổ B, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: thôn A, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 09/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Ngọc H1 và bà Bế Thị V; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/4/2024; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Bị hại: ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1980

Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1982
  • Địa chỉ: số B, L, tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 30/10//2023, Nông Trọng H cùng với Phạm Minh T đến làm làm thuê cho gia đình ông Nguyễn Văn M, trú tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cả hai làm việc tại vườn của gia đình ông M thuộc thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/10/2023, cả hai đi về nhà ông M để nghỉ ngơi. Tại đây H và T có hỏi mượn của ông M 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda City, màu đỏ biển kiểm soát 60F4-4764 để đi chơi thì ông M đồng ý. Sau đó H điều khiển xe mô tô chở T đến nhà của anh Nguyễn Tiến Đ, trú tại xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để chơi. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, H và T điều khiển xe mô tô quay về lại nhà ông M thì giữa H và ông M xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau vì lý do Hơn tự ý hút xăng xe của người khác để đổ vào xe mô tô đã mượn để đi chơi.

Sau khi cãi nhau với ông M, Hơn bực tức nên đã dọn đồ đạc đi ra khỏi nhà ông M. Khi H đi bộ ra tới đầu đường bê tông cách nhà ông M khoảng 500m thì T chạy theo và gọi H lại. Sau đó cả hai ngồi ở lề đường nói chuyện với nhau khoảng 10 phút. Trong quá trình nói chuyện thì T bàn bạc với H sẽ lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda City, màu đỏ, biển kiểm soát: 60F4-4764 để làm phương tiện đi về nhà và lấy chiếc điện thoại di động của ông M để bán lấy tiền tiêu xài trên đường về thì H đồng ý. Lúc này H nói với T là vừa cãi nhau với ông M nên nói T vào nhà lấy trộm xe mô tô và điện thoại của ông M thì T đồng ý, còn H đứng ngoài đường đợi. Khoảng 15 phút sau T đi vào nhà ông M lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro đang sạc pin để trên bàn phòng khách bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài hiên nhà lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda City, màu đỏ biển kiểm soát 60F4-4764 rồi điều khiển đi đến chỗ Hơn đang đứng đợi. Lúc này H điều khiển xe mô tô chở T đi về hướng huyện D, tỉnh Lâm Đồng để tìm chỗ bán điện thoại nhưng do đã khuya không không tìm được chỗ bán điện thoại và không có tiền để thuê nhà nghỉ nên T và Hơn cả hai đi về nhà anh Nguyễn Tiến Đ, trú tại khu Tự Đạo, xã G, huyện D để xin ngủ nhờ nhưng anh Đ không đồng ý nên cả hai tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về hướng thành phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng hơn 02 giờ sáng thì cả hai đi đến chân đèo B thì thấy có 01 quán cà phê võng bên đường không có ai trông coi nên đã đi vào ngủ. Đến sáng ngày 31/10/2023, H tiếp tục chở T đi đến thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng rồi đi đến tiệm điện thoại Tiến Đ hỏi bán chiếc điện thoại đã lấy được của ông M trước đó. Lúc này, T lấy chiếc điện thoại từ trong túi quần ra và nói với chủ cửa hàng đây là điện thoại của H và đang cần tiền thì chủ cửa hàng đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. Sau khi bán điện thoại xong thì T cất tiền vào trong túi quần rồi cả hai điều khiển xe đi về thành phố B rồi đến nhà nghỉ N1 2 thuê phòng nghỉ. Đến ngày 06/11/2023 thì hết tiền nên H và T tiếp tục điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda City, màu đỏ biển kiểm soát: 60F4-4764 quay lại nhà anh Nguyễn Tiến Đ để tiếp tục xin ngủ nhờ. Khi đến nhà anh Đ thì H tháo biển số xe trên ra rồi giấu ở trong phòng bếp để tránh bị phát hiện. Đến ngày 07/11/2023, khi T và H đang ở tại nhà anh Đ thì công an xã G, huyện D đến kiểm tra lưu trú thì phát hiện cả hai có biểu hiện nghi vấn nên đã đưa về trụ sở làm việc. Tại cơ quan công an H và T đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng vụ án thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda City màu đỏ biển kiểm soát: 60F4-4767 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 12 Pro.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 139/KLĐG ngày 07/12/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda City màu đỏ biển kiểm soát: 60F4-4767 có giá trị là 6.150.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro, màu xám, bộ nhớ 256G có giá trị là 6.111.000 đồng. Tổng cộng là 12.621.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 140/CT-VKS-LH ngày 01/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Phan Minh T2, Nông Trọng H về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Minh T, Nông Trọng H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 12 đến 15 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nông Trọng H từ 09 đến 12 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng không đặt ra để xem xét, giải quyết. Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Minh T và Nông Trọng H đã khai nhận: vào khoảng 22 giờ 30 ngày 30/10/2023, tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, các bị cáo đã bàn bạc với nhau lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda City màu đỏ biển kiểm soát: 60F4-4767 và 01 điện thoại di động nhân hiệu Xiaomi Redmi Note 12 Pro của ông Nguyễn Văn M. Tài sản các bị cáo trộm cắp theo định giá của cơ quan chuyên môn có tổng giá trị là 12.621.000đồng (Mười hai triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn đồng).

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Minh T và Nông Trọng H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo là liều lĩnh được thực hiện với lỗi cố ý và thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đã lợi dụng lúc chủ sở hữu sơ hở, mất cảnh giác, đêm khuya, xung quanh vắng người, ít ai chú ý, lén lút trộm cắp tài sản là xe mô tô và điện thoại đây là loại tài sản có giá trị và dễ tiêu thụ. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: bị cáo Phạm Minh T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Nông Trọng H trộm cắp tài sản, đồng thời bị cáo T là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo cũng là người đem tài sản trộm cắp là chiếc điện thoại di động đi bán lấy tiền và là người trực tiếp cầm tiền để sử dụng cho cả hai. Bị cáo Nông Trọng H khi được bị cáo Phạm Minh T rủ đi trộm cắp tài sản thì đồng ý và đứng ngoài cảnh giới, bị cáo là người tháo biển kiểm soát của xe máy trộm cắp được để tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện, trong đó bị cáo T phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H là phù hợp.

[5] Xét nhân thân của các bị cáo: các bị cáo là dân lao động, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo H là người đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội bị cáo H đã ra đầu thú với cơ quan Công an. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để các bị cáo có điều kiện rèn luyện bản thân, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung.

Đối với ông Nguyễn Quốc T1 là người mua điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 12 Pro nhưng ông T1 không biết đây là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xem xét xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo không có công việc thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về Trách nhiệm dân sự: tài sản các bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại, tại phiên tòa, bị hại không có ý kiến và yêu cầu gì vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Đối với số tiền ông T1 sử dụng để mua chiếc điện thoại di động các bị cáo trộm cắp là 2.000.000đồng. Tại phiên tòa, ông T1 vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện ông T1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[10] Về án phí: buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh T, Nông Trọng H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Phạm Minh T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.

    2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Nông Trọng H 07 (Bảy) tháng 04 (Bốn) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2024.

      Áp dụng khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nông Trọng H nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc: Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (08/11/2024), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Sơn Linh

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS - ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 159/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh T cùng đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger