Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VĨNH YÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số:159/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Minh Ái

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thu Hằng và ông Lưu Văn Hà

Thư ký phiên toà: Bà Kiều Thị Hằng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/HS-ST ngày 16 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:167 /2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn C, sinh ngày 28/7/2001, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: TDP G, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Phùng Thị B; Vợ: Thào Thị C1; con: Có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 cho đến nay (có mặt).
  2. Phan Anh T1, sinh ngày 02/3/2006, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn L và bà Trần Thị D; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2024 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Q T2sinh năm 1997; địa chỉ: TDP G, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc(Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14h30' ngày 11/4/2024, Trần Văn C và Phan Anh T1, đang ngồi chơi tại phòng trọ của C17, thị trấn H, huyện T được điện thoại từ số thuê bao 0981.420.075 đến số thuê bao 0967.601.234 của C Qua điện thoại, một nam giới (C2 biết tên, tuổi, địa chỉ, nơi cư trú của người này) hỏi mua của C02 túi ma túy loại Ketamine và 05 viên ma túy “kẹo”. Cđồng ý và hẹn người này đến khu vực gần cổng Trường C18, thuộc Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V trao đổi mua bán ma túy. Sau khi nghe điện thoại của người này xong, C3 với T1: “Có người hỏi mua ma túy”, Tlnói với C: “Anh xem còn đồ không thì để lại cho nó”. Do có sẵn ma túy nên C4 02 túi nilon chứa ma túy Ketamine và cùng 01 túi nilon bên trong chứa 05 viên ma túy “kẹo” và rủ T1đi bán ma túy cùng, T1đồng ý. C điều khiển xe ô tô mang BKS 88A-473.49 chở T1đi đến điểm hẹn để bán ma túy. Trên đường đi, Cđưa số ma túy trên cho T1 cầm. Sau đó, Tlcất giấu ma túy vào túi quần phía trước bên trái của chiếc quần T1 đang mặc. Khi đến địa điểm đã hẹn với người hỏi mua ma túy thì C5 T1xuống xe để chờ người mua ma túy đến. Khi C5 T1đang đứng chờ người này ở ven đường thuộc Tổ dân phố C, phường Đ, thành phố V bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh V phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái T1đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong đựng 05 viên nén màu xám cùng 02 túi nilon nhỏ bên trong chứa các tinh thể màu trắng. Cvà T1 đều tự khai nhận 05 viên nén là ma túy “kẹo” và 02 túi nilon đựng tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine của C5 T1đem đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Vật chứng được niêm phong theo thủ tục pháp luật, ký hiệu A. Ngoài ra, Cơ quan Công an còn tạm giữ của Trần Văn C6 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, đã cũ đã qua sử dụng; 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent, màu sơn trắng, gắn BKS 88A-473.49; tạm giữ của Phan A T101 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu tím, đã cũ đã qua sử dụng.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh V tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn C7 TDP S, thị trấn H, huyện T nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 1030 ngày 15/4/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Vkết luận:

  • Tinh thể màu trắng mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, loại Ketamine có tổng khối lượng 1,6384g (một phảy sáu ba tám bốn gam, không kể bao bì).
  • 05 viên nén màu xám trong mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, loại MDMA có tổng khối lượng 1,8071g (một phảy tám không bảy một gam, không kể bao bì).

Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

MDMA là chất ma túy nằm trong Danh mục IB, STT 11, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Hoàn trả đối tượng còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu giám định gồm: A1= 1,4462 gam (Một phảy bốn bốn sáu hai gam) + 1,6117 g (một phảy sáu một một bảy gam) ma túy được niêm phong trong một bao túi giấy “MẪU TRẢ 939/2024" trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K1

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định cho Trần Văn CPhan Anh T1biết, các bị cáo đồng ý với kết luận giám định, không có ý kiến gì, đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số: 153/CT-VKSTPVY ngày 16/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Trần Văn Cvà Phan Anh T1 về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Trần Văn Cvà Phan A T1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Trần Văn C từ 02 năm 06 tháng, đến 02 năm 09 tháng tù, xử phạt bị cáo Phan A T1từ 02 năm 3 tháng đến 2 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/4/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng của Trần Văn C8 lại Phan Anh T101 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1= 1,4462 gam (Một phảy bốn bốn sáu hai gam) + 1,6117 g (một phảy sáu một một bảy gam) ma túy được niêm phong trong một bao túi giấy “MẪU TRẢ 939/2024” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K1Công an tỉnh V.

Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Trần Văn CPhan A1 T1 tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 11/4/2024, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh V làm nhiệm vụ tại khu vực thuộc TDP C, phường Đ, thành phố V phát hiện Trần Văn Cvà Phan Anh T1 có hành vi mang ma túy đi để bán cho một người nam giới không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của chiếc quần T1đang mặc 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 05 viên nén màu xám cùng 02 túi nilon nhỏ bên trong chứa các tinh thể màu trắng, qua giám định kết luận tinh thể màu trắng là ma túy, loại Ketamine có khối lượng 1,6384g (một phảy sáu ba tám bốn gam, không kể bao bì); 05 viên nén màu xám là ma túy, loại MDMA có tổng khối lượng 1,8071g (một phảy tám không bảy một gam, không kể bao bì). Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 19 ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy xác định: Các chất ma túy MDMA và K được quy định trong cùng một điểm của Điều 251 BLHS. Khối lượng các chất ma túy đều thấp hơn khối lượng tối thiểu theo khoản 2 Điều 251 BLHS (Khối lượng tối thiểu theo khoản 2 Điều 251 của MDMA là 5g, Ketamine là 20g). Tổng khối lượng 02 chất ma túy này là: (1,8701/5 x 100) + (1,6384/20 x 100) = 37,402% + 8,192% = 45,594% < 100%. Do vậy, hành vi của Trần Văn Cvà Phan A T1 phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có khung hình phạt từ 02 năm đến 7 năm tù.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, ma túy cũng là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[2.1] Về tính chất, vị trí vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo.

Đây là vụ án tính chất đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn trong đó Trần Văn C9 người khởi xướng, rủ rê và là người mua số ma túy để Cvà T1đem đi bán, bị cáo T1là người thực hành, cất giấu vào túi quần số ma túy Cđưa cho nhằm mục đích đem đi bán kiếm lời, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với vị trí, vai trò của mình trong vụ án.

Các bị cáo là thanh niên có sức khỏe, có trình độ văn hóa, nhận thức được việc mua bán là trái pháp luật, nhưng vì hám lợi và thỏa mãn nhu cầu cá nhân các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Mặt khác hiện tại các tội phạm về ma túy trên địa bàn thành phố V chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương do đó cần xử phạt nghiêm minh để làm gương cho người khác. Tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu bị đưa ra xét xử, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn thành khẩn khai báo,ăn năn hối cải, bị cáo C10 ông nội là T3, bị cáo Tlcó bà nội là Vũ Thị N Nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ.

Từ những phân tích như trên thấy rằng, việc áp dụng hình phạt tù giam đối với các bị cáo là cần thiết, tuy nhiên như đã phân tích ở trên các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên chỉ cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian trong đó cần xử phạt bị cáo C11 hình phạt cao hơn bị cáo T1như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên các bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[4] Đối với những người có liên quan đến vụ án gồm:

Đối với số điện thoại 0981.420.xxx người nam giới gọi cho C12 mua ma túy, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Vđã tiến hành xác minh chủ sở hữu số thuê bao 0981.420.075 là anh Nguyễn Duy M ngày 08/02/1991, địa chỉ tại: T, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn Lanhưng bản thân anh M1 sử dụng số thuê bao 0981.420.075. không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo C13 cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với người đàn ông mua gọi điện thoại mua ma túy của C14 thân C2không biết người này là ai, tên gì, ở đâu. Ngoài lời khai của C2 có căn cứ nào khác để xác định danh tính người này, vì vậy Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Vtiếp tục điều tra, xác minh nếu làm rõ xử lý sau là có căn cứ.

Đối với người nam giới tên H ma túy cho C15 khu vực đường A, thuộc địa phận huyện M, thành phố H sáng ngày 09/4/2024 có đặc điểm khoảng 40 tuổi, dáng người gầy, tóc cắt ngắn, đeo khẩu trang y tế, mặc áo cộc tay màu đen. Ckhông biết họ tên đầy đủ, tuổi, địa chỉ, nơi ở, nơi cư trú của người này, không nhớ vị trí cụ thể Cmua ma túy. Ngoài lời khai của C không có căn cứ, tài liệu gì khác để xác định nhân thân, lai lịch của người đã bán ma túy cho C9 ai, ở đâu, nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ xử lý sau là có căn cứ.

[5] Về vật chứng:

Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu bán phát mại thu nộp vào Ngân sách Nhà nước. Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, màu tím là tài sản hợp pháp của Phan Anh T1 không dùng vào việc phạm tội. Do vậy cần trả lại cho T1nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu đen BKS 88A- 47349 là tài sản hợp pháp của anh Trần Quang T2, sinh năm 1997, là anh trai của C. Buổi sáng ngày 11/4/2024, C16 chiếc xe ô tô trên dùng vào việc phạm tội anh T2không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh V trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Q T2là có căn cứ.

Đối với số tiền 8.000.000₫ C sử dụng để đi mua ma túy, quá trình điều tra C khai nhận số tiền trên do C lao động hợp pháp mà có, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề cập xử lý.

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1= 1,4462 gam (Một phảy bốn bốn sáu hai gam) + 1,6117 g (một phảy sáu một một bảy gam) ma túy được niêm phong trong một bao túi giấy “MẪU TRẢ 939/2024” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K1Công an tỉnh K1 đề nghị tịch thu tiêu hủy.

[6] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn CPhan A1 T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt Trần Văn C 02 năm 06 (Sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/4/2024).
  3. Xử phạt Phan Anh T1 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 11/4/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu bán phát mại sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng của Trần Văn C8 lại Phan A T101 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone, vỏ màu tím nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1= 1,4462 gam (Một phảy bốn bốn sáu hai gam) + 1,6117 g (một phảy sáu một một bảy gam) ma túy được niêm phong trong một bao túi giấy “MẪU TRẢ 939/2024” trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K1Công an tỉnh V.

(Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024)

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Trần Văn CPhan Anh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát thành phố Vĩnh Yên;
  • - Công an thành phố Vĩnh Yên;
  • - Trại tạm giam - CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án Vĩnh Yên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Đỗ Minh Ái

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 159/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 159/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn C cùng đồng phạm phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger